MỘT SỐ NHÓM ĐẤT CHÍNH Ở VIỆT NAM 1. Cấu trúc những nguyên tố cơ học. Thể rắn của đất gồm Những nguyên tố cơ học là những hạt đất hoặc như hợp chất vô khoáng riêng biệt nguyên sinh cũng những định hình ở trong đất. Do năng lượng bề mặt, thé long nguyên tố cơ học này tác động tương hỗ với lạp của đất và giữa chúng với nhau, kết quả bị đoàn giữ chặt hoá.
Nhiều những nguyên tế cơ học được do sự tương hỗ với nhau do việc ngưng kết các keo, hydro, do dính, đo lực Vandecvan, do mối liên kết lồng, cũng hiện tượng hấp phụ và mao quan trong thể lạp hoặc như nhờ rễ cây và hệ sợi của nấm tạo ra đoàn những phần cấu trúc. dạng: độ hổng, độ Nhiều đoàn lạp có kích thước nước khác bền vững cơ học và độ bền vững đối với loại đất và nhau thì đặc trưng cho từng tầng, từng hình thành nên cấu trúc đất. g tính Nhiều tính chất của đất, đặc biệt là nhữn đất. Bởi vậy, chất lý học, phụ thuộc vào cấu trúc của g của nó lên vấn để về nguồn gốc cấu trúc, ảnh hưởn cây trồng, đã tính chất đất, lên độ phì và năng suất từ lâu được nhiều nhà nghiên cứu chú ý.
6: Hiện nay có thể khẳng định rằng: Độ phì của những đất có thành phần cơ học nặng (đất thịt trung bình, thịt nặng và sét, ở mức độ lớn phụ thuộc vào cấu trúc của đất, vì cấu trúc quyết định tính chất nước, tính chất khí, tính chất sinh học, nghĩa là quyết định chế độ dinh dưỡng của đất. Trong thiên nhiên thường gặp các dạng cấu trúc sau đây: a) Dạng cấu trúc khối 1. Cục to Cục CHARAWN. Cục nhỏ Bụi Hạt to Hạt Hat nhỏ.
Phần cấu trúc dính ở rễ. b) Dạng cấu trúc lăng trụ 12. Trụ rất nhỏ 66 c) Dạng cấu trúc hình tấm (phiến) 17. Vẩy nhỏ 9, Một số nhóm đất ở Việt Nam (C) Arenosols (AR): Điện tích a) Nhóm đất cát 533.434ha hưởng chặt chẽ Đất cát được hình thành mang ảnh có thành phần cơ của mẫu chất đá mẹ.
Là nhóm đất và phù sa hay đá bọt giới nhẹ, không mang tính chất không có tầng chuẩn đoán nào khác ngoài tầng À được hình Ocbric và tầng E Albic. Nhóm đất cát biển có ở cả ba chung thành ven biển và nội đồng, nói ờng phân bố vành miền. Dat cén cát trắng vàng thư biển. Có nơi cồn cát ngoài (sát biển) của nhóm đất cát di có nơi còn trong tình trạng cao đến 200-300m, chảy theo suối cất động, cát tiếp tục bay theo gió, hay vào đông lấp đất trồng trọt.
rời rạc, độ phì nhiêu Nói chung đất côn cát ít chua, ng bình, chủ yếu thap, cation trao đổi thấp, sắt tru tồn tại dưới dang Fe™. là phát triển các Hướng chính sử dụng loại đất này tràm, kết hợp trồng dải rừng ven biển: phi lao, keo lá phần cây hoa màu cổ cho chăn nuôi, phát triển một gỗ, củi, cỏ, kết hợp cây họ đậu. Nguồn lợi chính là 67 Hướng một phần hoa màu, lương thực, cây họ đậu. không giữ đơn thuần trồng trọt ít hiệu quả, vì đất được độ màu mỡ.36ha Đây là nhóm đất mặn ven biển Việt Nam, do ảnh u tràn vào hưởng của nước mặn biển theo thủy triể với vị trí lãnh hoặc do nước mạch mặn.
Ở Việt Nam phi địa đới có thể của mình, vai trò của các yếu tế thành và chuyển tác động quan trọng trong sự hình Nông dan hóa đất không kém các yếu tố địa đới. đất mặn, Việt Nam phân biệt khá rõ đất phù sa, đều có đất phèn, đất cát. tuy những đất trên đặc tính cơ nguồn gốc thủy thành, nhưng những ng phát triển bản và tính chất quyết định chiều hướ nhau. Đất cũng như hướng sử dụng thì rất khác do muối NaCl thường có mặn ven biển Việt Nam > 0,05% tổng số muối tan > 0,25% (tương ứng với mùa có hai Gì).
Trong hoàn cảnh nhiệt đới ẩm, gió tầng mặt mùa mưa, khô khác nhau. Về mùa mưa lúc bấy (0-B0cm) muối thường bị rửa trôi gần hết, và phân tích giờ xác định đất mặn phải nhận xét các tầng bên dưới phẫu diện. Fluvisols - Đất mặn sú, vẹt, đước (Min) Gleyi Salic (Flsg): Dién tich 108. 318ha m diện tích Đất mặn sú, vẹt, đước chiếm 0,34% nhó m đất mặn và đất tự nhiên toàn quốc và 10,63 % nhó sông Cửu phân bố ở các vùng như sau: đồng bằng RA Long c6 56.448ha, duyén hai mién Trung 5.166ha, khu Bốn (ci) 1.796ha và déng bằng séng Héng 15.
Đất sú, vẹt đước ở dạng chưa thuần thục: tầng mặt thường đổ đất đổ nước, đang trong quá trình bổi lắng, dạng bùn lỏng, lầy ngập nước triểu, bão hoà NaCl, lẫn hữu cơ, giây mạnh, đất có phản ứng chua, tầng A và B lượng hữu cơ trung bình, đạm tổng số trung bình, lân va ka li tổng số nghèo. Cation trao đối thấp, hàm lượng sắt lớn đặc biệt là Fe?'. Hàm lượng Clo là 0,05% và hàm lượng SO¿‡ dao động ở mức lớn 0,14-0,2 %. Trên những dải đất này không nên trồng lúa vì cho năng suất thấp, nên trồng các thảm rừng khác nhau để bảo vệ vùng biển, chắn sóng, chắn gió bồi đắp phù sa.
Để nâng hiệu quả kinh tế có thể kết hợp với các mô hình ngư lâm như: + Mô hình vuông tôm chuyên canh có phòng hộ của cây rừng ngập mặn (trên đất trũng bùn mềm). + Mô hình tôm - rừng trên dạng đất thấp bùn chặt. + Mô hình trồng rừng đước kết hợp nuôi tôm. có dạng điều chế rừng và xây dựng hệ thống cống rãnh phù hợp.
+ Mô hình rừng đước, sú, vẹt - cua. + Mô hình rừng sú, vẹt nuôi trồng các loại thuỷ san. + Mô hình rừng đăng, trang, vẹt, bảo vệ bờ biển lắng đọng phù sa phát triển thủy sẵn ven bờ. 69 - Đất mặn trung bình uờ ít (M) Molli salie Eluuisols (Fism): Diện tích 732.584ha Phân bố tiếp giáp đất phù sa, bên trong vùng đất mặn nhiều, đại bộ phận ở địa hình trung bình và cao có ảnh hưởng của thủy triểu.
Loại đất này chiếm 12,4 % diện tích toàn quốc và khoảng 75% của nhóm đất mặn. Hàm lượng Nụ; kali tổng số nghèo, photpho tổng số giàu, mùn trung bình. Cation trao đổi lớn và hàm lượng sắt cũng như tỉ lệ Fe*/ Ee"' nhỏ. Hàm lượng Clo < 0,05% hàm lượng SO,* nhỏ dao động từ 0,01-0,02 %.
Hiện nay đại bộ phận đất được trổng 2 vụ lúa, những nơi chủ động tưới tiêu thường có năng suất cao. Đây cũng là một địa bàn trồng lúa có năng suất và chất lượng cao, thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản hơn vùng nội đồng vì còn quan hệ với thủy triều. 6 những vùng đất mặn trung bình không nên ngọt hoá một cách tùy tiện. vì làm như vậy sẽ không giữ được môi trường sinh thái để sử dụng được đa dang và hiệu quả hơn.
Nói chung khai thác vùng đất mặn để trồng lúa là việc làm cần thiết để giải quyết lương thực, nhưng trong hoàn cảnh đã bảo đảm khá vững chắc nhu câu lương thực, thì vùng đất mặn, nước lợ, ngoài lúa gạo đặc sản chất lượng cao phải từng bước đành ưu tiên cho phát triển nguồn lợi thủy sản. ©) Đất phèn (S) Thionic Fulvisols (Fit): Dién tích 1.128ha - Dét phén hoat déng (Sj) Orthi - thionic Fluvisols Đất phèn được hình thanh do san phẩm béi tụ phù 70 sa với vật liệu sinh phèn (xác thực vật chứa lựu huỳnh: Pyrite) phát triển ở môi trường đầm mặn, khó thoát nước. Nơi nào bề mặt của đầm mặn rộng thì phèn tiểm tàng phát sinh nhiều, nơi nào bề mặt hẹp thì phèn tiểm tàng mất dân và trở thành không phèn, ở các tỉnh miền Bắc gọi là đất chua mặn như ở Hải Phòng, Nam Hà (nay là Nam Định và Hà Nam). Xác các động thực vật đặc biệt là thâm thực vật rừng ngập mặn phổ biến là các họ Rhizophra và Avicenia chứa nhiều lưu huỳnh, trong điều kiện yếm khí thường được tích lũy lại ở dạng H;S gặp Fe chuyển sang dang FeS, FeS, gap điều kiện ôxy hoá sẽ chuyển thành sunfat sắt và axit sunfuric làm cho đất chua và chính axit H;SO, lại tác động với khoáng sét tạo thành alumin sunfat tức là muối phèn.
Đất phèn hoạt động là đất có tầng phèn (tầng Jarosite). - Dat phén tiém tang (Sp) Proto - thionic Gleysols (fluvisols) Đất phèn tiểm tàng thường ở dưới một thảm thực vật đặc biệt và quá trình sinh thái ít thay đổi như sú, vẹt, đước. Liên quan với tính chất hữu cơ, chế độ thuỷ triểu làm phức tạp thêm tính chất phèn tiểm tàng. Đất phèn tiểm tàng chiếm diện tích ít khoảng 652.244ha, chiếm 35% tổng diện tích đất phèn.
Trong điều kiện canh tác đất phèn dễ bị ôxy hoá, chuyển hoá thành đất phèn hoạt động. Đất phèn tiểm tàng thường có pH thấp (thường < 3,B), hữu cơ cao, AI, Fe di động cao, Ca?', Mg”' thấp hơn và tỉ lệ SO,? cao. 71 Hiện nay, đại bộ phận diện tích đất phèn đã được khai thác để trồng lúa và phần lớn đã được trồng hai vụ đông - xuân và hè - thu hoặc đông - xuân và mùa. Cải tạo đất phèn để trồng lúa là một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là hướng đẫn cho nông dân hiểu biết cách cải tạo đất phèn và sử dụng hợp lý nó.
Một trong những cách cải tạo đất là đào kênh mương sử dụng nước ngọt để thoát phên, nhất là áp dụng những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật kết hợp với kinh nghiệm của nông dân (giống, canh tác, bảo vệ thực vật, ém phèn, thoát phèn). Cây lúa là cây trồng quan trọng số một, nhưng không chỉ trông lúa mà tại những nơi phèn mạnh (rốn phèn) - việc cải tạo để trồng lúa tốn kém có thể trồng rất nhiều loại cây khác có sức chịu phèn lớn mà ít phải cải tạo, hay không cần cải tạo đất như: khoai mỡ, sắn, diéu, dita, bang, tram. d) Dat phi sa (P) Fluvisols (FL): Dién tich 3.059ha - Đất phù sa trung tinh it chua (P) Eutric Fluvisols (Fle): Dién tich 225,987 ha. Đây là loại đất phù sa mẫu mỡ, dung tích hấp phụ và bão hoà bazd cao, do đặc điểm mẫu chất của hệ thống, điểu kiện địa hình và chế độ chủ động được việc bưới tiêu.
Đất phù sa trung tính ít chua tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. 72 Giá trị pH ở đất phù sa dao động trong khoảng 4. Giá trị pH ở tang A đều nhỏ hơn tầng B do 6 tầng A xảy ra các quá trình phân huỷ chất hữu cơ tạo ra các axit mùn và các ion H* làm pH của đất giảm.