Chương 1: Một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Chương 2: Thực trạng định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp bảo đảm định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. 6 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1.
Khái niệm và ý nghĩa của việc định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Định tội danh là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật, là hoạt động được thực hiện xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm xác định sự thật khách quan, đưa ra những đánh giá chính xác về mặt pháp lý hình sự giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trong thực tế khách quan, với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự, tạo tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Định tội danh đúng sẽ tạo cơ sở cho việc thực hiện hàng loạt các nguyên tắc tiến bộ bảo vệ quan hệ nhân thân, bảo đảm sự công minh và nhân đạo của pháp luật. Do đó, việc nghiên cứu khoa học pháp lý về định đội danh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Hiện nay, xung quanh khái niệm định tội danh còn có nhiều quan điểm khác nhau. Lê Văn Cảm và PGS. Trịnh Quốc Toản thì “Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của 7 z hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định”[14, tr. Theo tác giả Nguyễn Đức Cường trong bài viết “Định tội danh trong vụ án hình sự cụ thể” thì “Định tội danh là việc xác định hành vi khách quan thỏa mãn cấu thành một tội phạm nhất định được quy định trong Bộ luật hình sự” [18].
Lê Văn Luật thì “Định tội danh là một vấn đề quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng thời làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng. góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.”[27] Tuy nhiên, nhìn chung đa số các học giả, các nhà nghiên cứu khoa học hình sự đều nhìn nhận quan điểm: Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý hình sự được thực hiệntrên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được để xác định có hay không có sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự. Theo Từ điển Luật học bắt cóc là hành vi “bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi” [48]. Đây là hành vi tước đoạt tự do của người khác một cách bất hợp pháp, thể hiện sự manh động trong việc thực hiện hành vi phạm tội, xem thường pháp luật.Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người làm con tin nhằm mục đích buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc một khoản tài sản thì mới thả người bị bắt [32, tr.
8 z Như vậy, định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có thể được hiểu là việc xác nhận về mặt khoa học pháp lý hình sự,được thực hiện trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, để xác định có hay không có sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với các yếu tố cấu thành tộiphạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự. Ý nghĩa của việc định đúng tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có mức độ phức tạp trong việc thực hiện hành vi phạm tội, với những thủ đoạn khác nhau người phạm tội đồng thời xâm phạm cùng lúc hai khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Do đó, để đưa một vụ án ra xét xử nghiêm minh và công bằng đối với người phạm tội, thì việc định tội danh có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trước hết, định tội danh là cơ sở cần thiết đầu tiên cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Trên cơ sở xác định người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của BLHS, người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ quyết định một hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội đó. Vì thế, định tội danh được xem là tiền đề, điều kiện cho việc quyết định hình phạt đúng đắn, định tội danh chính xác sẽ giúp bảo vệ quan hệ nhân thân, bảo đảm trật tự ổn định xã hội, bảo vệ pháp luật, tạo ra sự tin tưởng trong xã hội đối với các cơ quan thực thi pháp luật, đồng thời, định tội danh chính xác sẽ là căn cứ để phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như cá thể hóa hình phạt và là cơ sở để áp dụng một số các quy định khác nhằm bảo vệ nhân quyền trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Ngược lại, định tội danh sai không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, mà còn làm giảm 9 z uy tín của các cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 1.
Căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Điều 2 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, căn cứ pháp lý duy nhất của việc định tội danh đối với hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là Bộ luật hình sự. Bộ luật hình sự hiện hành quy định rõ tội danh và khung hình phạt cụ thể đối với hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản tại Điều 134, với nội dung cụ thể như sau: Điều 134. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 1.
Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; đ) Đối với trẻ em; e) Đối với nhiều người; g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%; h) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; 10 z i) Gây hậu quả nghiêm trọng. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười tám năm: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; c) Gây hậu quả nghiêm trọng. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người; b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm [37]. Ngoài ra còn có các quy định mang tính bổ trợ khác làm căn cứ cho việc xác định tội danh như: Mục I Thông tư liên tịch số 02/VKSNDTC- TANDTC-BCA-BQP-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữuBộ luật hình sự 1999. Chương XIV CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU của Bộ luật hình sự 1999, cụ thể: MỤC I. VỀ MỘT SỐ TÌNH TIẾT LÀ YẾU TỐ HOẶC ĐỊNH KHUNG HÌNH PHẠT … 11 z Điểm 3.
Khi áp dụng các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (từ Điều 133 đến Điều 140, Điều 142 và Điều 143 BLHS) cần chú ý: 3. Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả). Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà Nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội).