CHƯƠNG 1 TỔ CHỨC - HIỆU NĂNG, NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ MỤC TIÊU Đêm ngày 31 tháng 12 năm 1899 một số người đã tụ tập tại Lands End ở miễn Tây Nam nước Anh để đốt lửa trại đón chào thế kỷ mới. Khi họ nhìn màn đêm buông xuống lẫn cuối cùng trong thế kỷ thứ 19, không chắc có ai đó trong số họ đã tiên đoán được là chẳng bao lâu nữa họ cũng sẽ được nhìn thấy "mặt trời" tiến công Đế Chế Anh, một lực lượng kinh tế hùng mạnh nhất thế giới. Tương tự như vậy, những người Mỹ họp mặt nhau vào một buổi tối năm 1945 để mừng chiến „ tranh kết thúc ở khu vực Thái Bình Dương, không bao giờ lại có thể ngờ rằng chỉ trong vòng 80 năm sau đó, đất nước của họ lại bị người Nhật, kẻ thù đã bị họ đánh bại, gạt ra khỏi vị trí quốc gia giàu nhất thế giới. Thời vận kinh tế của các quốc gia không ngừng biến động ngay từ thuở sơ khai.
Nếu chúng ta chỉ giới hạn quan sát thế giới phương Tây kể từ sau Công nguyên, thì trong danh sách liệt kê chỉ có các nước như Áo, Pháp, Đức, Hungary, Italy, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Anh. Điểm khác nhau duy nhất trong trường hợp này, kể từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp, là tần xuất biến động. Nước Anh đã giữ vị trí độc tôn chủ nợ hàng đầu trong suốt gắn 100 năm. Sau đó, Hoa Kỳ đã tiếp nhận vai trò này và chỉ giữ được vị trí ấy -.
trong vòng 70 năm thì bị người Nhật vượt lên vào năm 1965. Vào những năm 2010, các nước hiện đang nắm giữ danh biệu này sẽ có thể phải đối mặt với một thách thức to lớn, từ phía 9 nước khác trong khu vực Thái Bình Dương hoặc từ phía Cộng Đồng châu Âu, thống nhất về chính trị sau năm 1992. NHỮNG YẾU TỐ ẲNH HƯỚNG ĐẾN SỰTHÀNH ĐẠT CỦA TỔ CHỨC Cả trong những bước đi lên cũng như sa sút của các công ty đa quốc gia ở Hoa Kỳ đều là những sự kiện có tác dụng như những chất xúc tác đối với sự bùng nổ thông tin phản - ánh qua cũng những bài báo, những cuốn sách, những băng hình và những chương trình truyền hình về việc xây dựng tổ chức thành đạt. Để tài này đã thu hút được sự quan tâm không những của các nhà lý luận về quản lý ở các trường kinh doanh trên khắp thế giới, mà còn của cá các chuyên gia về rất nhiều các bộ môn khác nhau, từ nhân loại học đến động vật học.
Trong suốt thời kỳ 1950 - 1970, nhiều học thuyết về tổ chức đã thiên về những vấn để kỹ thuật như quản trị chiến lược, thiết kế những cơ cấu tổ chức với miễn kiểm soát tối ưu, - những hệ thống kiểm tra sản xuất với chi phí chuẩn, kế toán quản lý. các hệ thống kiểm soát ngân sách tập trung và hệ thống thông tin được trợ giúp bằng máy tính. những khái niệm mới trong số này đã được phát triển lên từ những bài học của các công ty Hoa Ky, như các công ty Ford Motor hay CE, những công ty đã đạt được mức tăng trưởng lợi nhuận khổng lễ nhờ áp dụng những giải pháp tiết kiệm bằng cách mở rộng quy mô kết hợp với việc sáng tạo ra các hệ thống sán xuất hàng loạt. Ngay từ hổi trước Thế Chiến II việc nghiên cứu thử nghiệm thay đổi điểu kiện làm việc tại nhà máy Hawthorne ở bang Ilhnois đã đặt dấu hỏi, phải chăng công nhân chỉ như là một phần bổ trợ cho các thiết bị khác được sử dụng để duy trì năng suất? Thế nhưng, mãi đến đầu những nàm 1960, các tổ 1Ô chức mới bắt đầu thừa nhận ý nghĩa quan trọng của việc quản lý cả con người lẫn kỹ thuật trong môi trường công tác.
Sự thừa nhận này đã dẫn đến việc mở rộng nhanh chóng lý thuyết quản lý sang các lĩnh vực kỹ năng giao tiếp, so sánh chế độ quản lý tham vấn với chế độ quản lý độc tài, bản chất và vai trò của quản lý, đánh giá thành tích, lãnh đạo có hiệu quả và thành tích của các cá nhân trong một tập thể. Trong hơn mười năm gần đây, tình trạng suy thoái của công ty Hoa Kỳ cũng như Châu Âu đã dẫn đến chỗ phải chấp nhận những chi phí xã hội trong việc cải tổ công nghiệp. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu nói đến những cá nhân lựa chọn một con đường sự nghiệp và cam kết trung thành với một tổ chức, suy cho cùng chỉ là để đương đầu với tình trạng mất việc làm do cất giảm sản xuất hay cải cách tổ chức gây ra. Khi mà những người này lại bắt đầu tìm kiếm việc làm mới, họ đã đau khổ khi nhận ra rằng các kỹ năng, trình độ chuyên môn và tuổi tác của mình không còn phải đáp ứng được những yêu cầu của công việc được đặt ra trong thông báo tuyển dụng.
GIẢI PHÁP TÌNH THẾ Không có gì đáng ngạc nhiên là môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt hiện nay mà mọi tổ chức trong thế giới phát triển đang phải đương đầu và mức độ đảm bảo công ăn việc làm ở tất cả các cấp quản lý bị giảm sút đã tạo ra một thị trường ngày càng phát triển cho những chuyên gia cung cấp những "giải pháp tình thế” cho các tổ chức cũng như cá nhân những người quản lý. Tất nhiên là trong thực tế thì mọi cỡ vấn trung thực khi được yêu cầu đưa ra một phương sách toàn năng đảm bảo sự thành đạt trong tương lai đều buộc phải lưu ý rằng các tổ chức đều là những cơ cấu phức tạp và 11 môi trường bên ngoài của chúng hợp thành từ vô số những biến tương tác với nhau. Vì thế cho nên một giải pháp tình thế có thể làm cho sự vật có vẻ tốt hơn trong thời gian-trước mắt, nhưng về lâu dài thì rất có thể là tổ chức đó rút cuộc sẽ mắc phải căn bệnh vô phương cứu chữa và chết, trừ khi có thực hiện những biến đổi cơ bản hơn khác. Một lời khuyên hiện thực hơn phải là: Muốn đảm bảo chắc chắn một tổ chức sẽ đạt được và duy trì được thành tích cao hơn các tổ chức khác, thì những người quản lý phải: 1.
Hiểu biết đây đủ những khái niệm tổng quát cơ bản về vai trò và mục tiêu của các tổ chức. Nắm vững những biến then chốt cả ở bên trọng lẫn bên ngoài tổ chức, có thể ảnh hưởng đến mục tiêu tương lai. Thừa nhận cần phải xây dựng những hệ thống quản lý đảm bảo thông tin về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu thành _ tích và những biến thiên của các biến có ảnh hưởng. Đánh giá cao tầm quan trọng của việc giao trách nhiệm cho những người có khả 'năng (a) xác định một kế hoạch đáp ứng phù hợp và (b) tao ra được những yếu tế thuận lợi để đảm bảo chắc chắn các kế hoạch đó sẽ được thực biện trong tất cả những lnh vực hữu quan của tổ chức đó.
MỘT MÔ HÌNH MỤC TIÊU CỦA TỔ CHỨC Vai trò cơ bản của một tổ chức (H.1) là tích lũy những yếu tố đầu vào và chế biến chúng để tạo ra chất liệu đầu ra cho những người khác ở bên ngoài tổ chức sử dụng. Có một số: đầu vào là sự kết hợp những thành phần để tạo ra đầu ra (ví dụ những hóa chất được sử đụng để sản xuất các chất tẩy rửa). Có một số đầu vào khác (ví dụ nhà xưởng, lao động trực 12 tiếp và tiên bạc) được tổ chức tiêu dùng, nhưng thường là không trở thành những thành phần hữu hình của đầu ra. Phương thức thông thường để đo lường các đòng tiền tệ của quá trình gắn liền với việc tích lũy/ chuyển hóa đầu vào và tạo chất liệu đầu ra là áp dụng một hình thức nào đó thuộc về giá trị tiên tệ.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỐT LÕI CƠ BẢN Tích lũy. Biến đối Giải quyết đầu vào đầu vào : dau ra À Những hoạt động hỗ trợ việc tích lũy - biến đối - chất liệu - đầu ra Công nghệ - Nhân sự Tài chính Hệ thống kiếm tra _ Tìm kiếm Hệ thống thông tin Hệ thống quản lý Hình 1.1 - Dác thành phẩn hoạt động của quá trình gia tăng giá trị trong phạm vi một tổ chức Một mục tiêu cơ bản của mọi tổ chức là đảm bảo chắc chắn rằng giá trị đầu ra phải lớn hơn tổng giá trị (hay chỉ phí) đầu vào và quá trình chuyển hóa. Trong các tổ chức thương mại, sự chênh lệch về giá trị này là lợi nhuận do hoạt động kinh doanh tạo ra. Đối với các tổ chức thuộc khu vực công cộng, người ta thường phát hiện thấy rằng việc đổi tiền tệ lấy đầu ra được thực hiện đối với mọi người trong cả nước theo giá bao cấp hay không mất tiễn (ví dụ các chế độ y tế xã 13 hội hóa ở nhiều nước Châu Âu).
Trên thực tế khách hàng | thường có đóng góp thu nhập gián tiếp thông qua việc nộp thuế, mặc đù mức tiêu dùng của các cá nhân rất ít khi nào tỷ lệ thuận với phần đóng góp bằng thuế của họ. Mọi tổ chức, bất kể là thuộc khu vực tư nhân hay công cộng, nếu nó luôn có chi phí lớn hơn giá trị đầu ra (giả sử rằng giá trị có thể đo được bằng những thuật ngữ phi tài chính, ví dụ sự hài lòng của các bậc cha mẹ về chuyện con cái được học tập đạt trình độ có thể tăng thêm triển vọng có việc làm), thì rốt cuộc tổ chức đó sẽ hoặc là phải chấm dứt sự tổn tại của mình, hoặc là bị mệt tổ chức khác có hiệu quả hơn trên thị trường thôn tính. : Trong hấu hết các trường hợp đều có một khoảng thời gian dài xen giữa thời điểm tích lũy/ biến đổi đầu vào và thời điểm nhận được giá trị từ việc trao đổi đầu ra (ví dụ người luật sư phải gánh chịu những chỉ phí để thực hiện trách | nhiệm của mình trong việc bán một tài sản, nhưng vẫn chưa nhận được tiển thù lao cho đến khi hợp đồng được trao đổi với người mua). Vì thế tổ chức đó buộc phải vay tiển, và nhiều khi khoản tiển vay là từ một nguồn ở bên ngoài.
Những - nguồn như vậy đều trông đợi vào khoản tiễn thưởng do phải gánh chịu rủi ro khi cho vay và được trả tiền lãi hay nếu mua cổ phiếu thì sẽ được thanh toán cổ tức và hay được hưởng phần tăng giá trị của các cổ phiếu đó trên thị trường.