phần mở đầu, kết luận, danh Mục tài liệu tham khảo, danh mục sơ đồ bằng biểu, đề tài có kết cầu 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về định giá doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Định giá Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình. Chƣơng 4: Một số giải pháp và kiến nghị hỗ trợ cho các quyết định đầu tƣ tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình. 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu : Định giá doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng luôn đƣợc quan tâm không chỉ của các nhà đầu tƣ mà còn của những nhà quản trị doanh nghiệp. Aswath Damodaran 2010 đã đƣa ra lý thuyết kinh điển về định giá doanh nghiệp trong tác phẩm “Định giá – Đầu tư”. Đây là lý thuyết nền tảng làm cơ sở cho nhiều nghiên cứu về định giá doanh nghiệp. Cuốn sách đã khẳng định đƣợc định giá là vấn đề cốt lõi của mọi quyết định đầu tƣ, cho dù đó là quyết định mua, bán hay nắm giữ tài sản.
Cuốn sách cũng là nguồn tƣ liệu quý báu với các thông tin, phân tích và kiến thức sâu rộng về việc định giá cổ phiếu, trái phiếu bất động sản và các tài sản khác. Tuy nhiên, cuốn sách tiếp cận vấn đề định giá trên khía cạnh quốc gia chứ chƣa đề cập nhiều tới định giá của doanh nghiệp. Tong bài viết “Định giá doanh nghiệp trong hoạt động mua lại và sáp nhập ở Việt Nam” đăng trên mục nghiên cứu – trao đổi, tạp chí tài chính số 10 – ngày 7 tháng 11 năm 2013, tác giả Th.S Bùi Thu Loan có chỉ ra rõ hai mô hình mà các tổ chức định giá thƣờng sử dụng là mô hình định giá chiết khấu dòng tiền và phƣơng pháp thị trƣờng và không sử dụng phƣơng pháp tài sản là hợp lý đối với các công ty không có quá nhiều tài sản thu nhập là dự tính đƣợc. Tác giả cũng đƣa ra những luận điểm cần chú ý khi tiến hành định giá doanh nghiệp của từng mô hình định giá, qua đó chỉ ra đƣợc các mô hình không định giá công ty mà chính là ngƣời thực hiện định giá, do đó việc nâng cao năng lực phân tích, định giá tài sản cũng nhƣ đạo đức nghề nghiệp là vấn đề cần quan tâm.
Đồng thời, tác giả đề cập đến khó khăn trong công tác ƣớc tính các con số cho tƣơng lai để từ đó đề xuất đƣợc một số giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác định giá M&A nhƣ ổn định vĩ mô nền kinh tế, kiềm chế lạm phát; hoàn thiện khuôn khổ 5 pháp lý cho hoạt động định giá hay xây dựng cơ chế giám sát, kiểm tra chất lƣợng hoạt động định giá để nâng cao tính chính xác trong kết quả định giá. Tuy nhiên, tác giả vẫn chƣa làm rõ đƣợc tác động và mối liên hệ căn bản giữa các nhân tố với nhau trong từng mô hình định giá nhằm liên kết giá trị với quy mô cà tốc độ tăng trƣởng kỳ vọng cũng những dòng tiền kỳ vọng của doanh nghiệp tạo ra trong tƣơng lai. Trong hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn Tiến sĩ, công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Đạt với đề tài luận án tiến sĩ “Cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp của các tổ chức định giá ở Việt Nam năm 2010” đã nêu bật lên rất rõ thực trạng cơ chế xác định giá trị của các doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay, những tồn tại cũng nhƣ hạn chế các các cơ chế xác định giá trong điều kiện kinh tế Việt Nam. Tác giả đã tập trung nghiên cứu vào thực tế hoạt động định giá tại các tổ chức định giá, chỉ ra những điểm cần phải khắc phục, hoàn thiện và nguyên nhân từ đâu.
Tuy nhiên, luận án cũng chƣa đề cập đến rủi ro trong hoạt động định giá, phải làm sao để hạn chế đƣợc rủi ro và sai số của phép đo và cách khắc phục để hoàn thiện trong hoạt động định giá. Những năm gần đây, khi suy thoái toàn cầu kéo theo khủng hoảng trong trong mọi lĩnh vực, đặc biệt một số lĩnh vực nhƣ tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bất động sản. Vì thế, định giá doanh nghiệp là đề tài đƣợc nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu trong các bài luận văn, trong đó, có thể kể tới: Luận văn thạc sỹ đề tài: “Định giá cổ phiếu ngân hàng thương mại sau sáp nhập” của tác giả Ths. Lê Nguyễn Công, trƣờng Trƣờng Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2015.
Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa lại cơ sở lý luận về M&A trong đó nhấn mạnh các giai đoạn tiến hành của một hoạt động M&A tại Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng. Các nghiên cứu xoay quanh các vấn đề lý thuyết của việc định giá cổ phiếu, áp dụng lý thuyết và việc định giá cổ phiếu của các ngân hàng Việt Nam trong thời gian vừa qua. Phần lớn nội dung của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa 6 tỷ lệ hoán đổi cổ phiếu với giá trị sổ sách, thị giá của cổ phiếu ngân hàng trƣớc và sau sát nhập, không đi sâu vào phân tích những ƣu điểm, hạn chế của bất kỳ một phƣơng pháp định giá nào và những ảnh hƣởng của các phƣơng pháp định giá tới giá trị của ngân hàng nhƣ thế nào. Luận văn thạc sỹ đề tài: “Định giá công ty cổ phần nhựa thiêu niên Tiền Phong” của tác giả Trần Thị Thùy Dƣờng, trƣờng Đại học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội năm 2012.
Trong luận văn này, tác giả đã phân tích rõ tình hình tài chính của Công ty cổ phần nhựa thiếu niên Tiền Phong về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, biến động tài sản, nguồn vốn từ đó dự báo về tính hình tài chính của công ty trong giai đoạn tiếp theo và đƣa ra các đánh giá, so sánh vị thế của công ty so với các đơn vị khác cùng ngành. Bài luận văn đã đề xuất kịch bản công ty tăng trƣởng qua 2 giai đoạn: Công ty tăng trƣờng trong giai đoạn tăng trƣởng nhanh trong 3 năm tiếp theo với tốc độ tăng trƣờng đại g hg = 11,49% và từ năm thứ 4 trở đi, công ty sẽ có tốc độ tăng trƣởng ổn định là 6%. Từ kết quả định giá, tác giả đã đề xuất đƣợc những giải pháp hoàn thiện kết quả định giá tại Công ty cổ phần Nhựa thiếu niên Tiền Phong tuy nhiên với góc độ chƣa sâu. Luận văn thạc sỹ đề tài: “Phân tích và định giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà” của tác giả Ths.Tào Thị Việt Hà, năm 2010.
Tác giả đã chỉ ra đƣợc mối liên hệ với giữa nền kinh tế vĩ mô, ngành bất động sản với môi trƣờng cạnh tranh ngành. Từ đó, tác giả tập trung phân tích kỹ càng tình hình tài chính trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập, phát triển của các doanh nghiệp tại Việt Nam và tại chính doanh nghiệp – Công ty Cổ phần Đầu tƣ Phát triển Đô thị và Khu công Nghiệp Sông Đà. Tuy nhiên, trên góc độ tƣ vấn nghiên cứu, tác giả lại chƣa đề cập đƣợc giải pháp nào hỗ trợ quyết định đầu tƣ tại doanh nghiệp hay các nhà đầu tƣ khi dựa trên thông tin từ định giá doanh nghiệp. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói riêng và nền kinh tế thế giới nói 7 chung đang cố gắng phục hồi và thoát khỏi sự ảnh hƣởng sâu rộng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu, tác giả muốn có một cái nhìn tổng thể và một nghiên cứu sâu sắc hơn về định giá doanh nghiệp Việt Nam.
Sau khi nghiên cứu tổng quan những tài liệu liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy, mặc dù vấn đề định giá doanh nghiệp đã đƣợc tiếp cận ở những góc độ, những ngành và lĩnh vực cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể về mặt lý luận, thực tiễn và đề xuất một số kiến nghị hỗ trợ cho công tác quyết định đầu tƣ của Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình giai đoạn 2017 – 2023 là giai đoạn phục hồi của nền kinh tế. Và đây cũng là lý do khiến tác giả quyết định thực hiện luận văn này. Cơ sở lý luận về định giá doanh nghiệp 1.
Doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp 1. Lý thuyết chung về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một thuật ngữ chỉ các tổ chức kinh tế, một tổ chức kinh tế đƣợc gọi là doanh nghiệp nếu nó đƣợc thừa nhận về mặt pháp luật trên một số tiêu chuẩn nào đó. Pháp luật các quốc gia thƣờng xây dựng tiêu chuẩn về mức vốn tối thiểu, mục tiêu hoạt động, ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh và từ các công dân đứng ra kinh doanh, để từ đó Nhà nƣớc có cơ sở trao cho những tổ chức kinh tế này những quyền lợi và nghĩa vụ trên một tƣ cách mới đó là doanh nghiệp. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Xét theo mục tiêu hoạt động, ngƣời ta chia doanh nghiệp thành: doanh nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp công ích. Doanh nghiệp kinh doanh là doanh nghiệp hoạt động chủ yếu vì mục 8 tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp công ích là doanh nghiệp Nhà nƣớc, hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà Nƣớc hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ Quốc phòng, an ninh. Bản thân thuật ngữ doanh nghiệp khi ra đời đã hàm chƣa một điều là nó lập ra để kinh doanh, để tìm kiếm thu nhập, tối đa hóa giá trị vốn chủ sở hữu.
Giá trị doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, là một thực thể hoạt động, thông qua sự hoạt động đó mà ngƣời ta nhận ra doanh nghiệp. Mặt khác, doanh nghiệp không phải là tập hợp các loại tài sản vào với nhau, khi thực hiện phá sản, doanh nghiệp không còn tồn tại với tƣ các của một tổ chức kinh doanh nữa. Do vậy, giá trị doanh nghiệp là một khái niệm đƣợc dùng cho những doanh nghiệp đang còn hoạt động và sẵn sàng hoạt động.