Chương 1: Cơ sở lý luận chung về định giá cổ phiếu bằng mô hình chiết khấu dòng tiền. Chƣơng 1 trình bày các nội dung liên quan đến cổ phiếu, các mô hình sử dụng để định giá cố phiếu. Các phƣơng pháp định giá bằng mô hình chiết khấu dòng tiền và những vấn đề cần lƣu ý khi định giá cổ phiếu bằng mô hình chiết khấu dòng tiền. Chương 2: Phân tích tình hình biến động giá cổ phiếu ngành thép niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
Trong chƣơng này, tác giả vận dụng phân tích Top –down và các phân tích tình hình tài chính cũng nhƣ kinh doanh của các công ty ngành thép niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, nhằm đánh giá mức độ rủi ro của cổ phiếu ngành thép. Chương 3: Kết quả định giá cổ phiếu ngành thép niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở của chƣơng 1 và chƣơng 2, chƣơng 3 tiến hành ƣớc lƣợng tỷ suất chiết khấu và xác định giá trị nội tại của cổ phiếu ngành thép niêm yết tại HOSE. Chƣơng 3, tác giả cũng so sánh giá trị nội tại và giá trị thị trƣờng, giá trị sổ sách để từ đó đƣa ra các lời khuyên cho nhà đầu tƣ ở chƣơng 4.
Chương 4: Khuyến cáo với nhà đầu tư, doanh nghiệp ngành thép và chính phủ. Từ kết quả định giá cổ phiếu từ chƣơng 3, tác giả đƣa ra một số khuyến cáo đối với các nhà đầu tƣ cũng nhƣ các doanh nghiệp ngành thép. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các nhà đầu tƣ muốn đầu tƣ vào cổ phiếu nào thì trƣớc hết cũng cần biết giá trị thực của cổ phiếu. Tuy nhiên, nhiều nhà đầu tƣ ở nƣớc ta còn thiếu kiến thức về phân tích, định giá do thị trƣờng chứng khoán tại Việt nam còn khá mới mẻ.
Tại Việt Nam trong nhiều năm qua đã có nhiều đề tài đã nghiên cứu 4 về định giá cổ phiếu nhằm giúp các nhà đầu tƣ có cái nhìn nhận đúng về giá trị thực của cổ phiếu. Đề tài “Xây dựng mô hình định giá cổ phiếu ở Việt Nam “ do PGS.TS Nguyễn Đình Thọ chủ biên ,cấp quản lý là Bộ giáo dục và Đào tạo nghiên cứu và hoàn thành từ 2008-2010. Đề tài đã nghiên cứu: Nghiên cứu các mô hình định giá giá trị cổ phiếu và kinh nghiệm vận dụng các mô hình này trên thế giới Và ứng dụng mô hình đó vào xây dựng cơ sở lý thuyết về các mô hình định giá cổ phiếu phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đề tài chỉ mới xây dựng mô hình lý thuyết làm cơ sở cho việc định giá cổ phiếu ở Việt Nam, chứ chƣa đi sâu định giá cổ phiếu nào cụ thể.
Nhìn chung đề tài mang tính chất lý luận, chƣa đi sâu sâu vào phân tích giá trị nội tại của cổ phiếu nên các nhà đầu tƣ chƣa thể sử dụng để ra quyết định đầu tƣ. Đề tài luận văn “Xác định giá trị nội tại của cổ phiếu ngành bất động sản niêm yết tại HOSE”của tác giả Đinh Thị Hiền Linh nghiên cứu năm 2011- 2012. Trong đề tài tác giả đã vận dụng phƣơng pháp chiết khấu dòng tiền để xác định dòng cổ tức với giả thiết tăng trƣởng g không đổi và xác định mức tỷ suất chiết khấu k dựa vào mô hình định giá tài sản vốn CAMP. Ngoài ra đề tài còn sủ dụng phƣơng pháp định giá so sánh (P/E), sau khi định giá từ hai phƣơng phái, tác giả đã so sánh để giá trị và dựa vào đó đƣa ra kiến nghị cho nhà đầu tƣ vào ngành bất động sản.
Kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trƣớc, tác giả vận dụng phƣơng pháp chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiếu ngành thép trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Trong luận văn này tác giả đã sử dụng những kết quả nghiên cứu định giá cổ phiếu bằng mô hình chiết khấu dòng tiền của đề tài “Xác định giá trị nội tại của cổ phiếu ngành bất động sản niêm yết tại HOSE” của tác giả Đinh Thị Hiền Linh nghiên cứu năm 2011- 5 2012 để xác định giá trị nội tại của cổ phiếu ngành thép niêm yết tại sở giao dịch chúng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Các nhà đầu tƣ đang nắm giữ cổ phiếu ngành thép hoặc đang quan tâm đến cổ phiếu ngành thép có thể tham khảo đề tài này. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU BẰNG MÔ HÌNH CHIẾT KHẤU DÒNG TIỀN 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU 1.1 Khái niệm cổ phiếu. Theo quan điểm thông thƣờng, cổ phiếu là giấy chứng nhận sở hữu cổ phần xác nhận quyền sở hữu cổ phần đối với công ty cổ phần. Theo điều 6 của Luật chứng khoán số 70/2006/QH 11: “Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó”. Phân loại cổ phiếu.
Phân loại cổ phiếu: Cổ phiếu đƣợc chia thành ba loại chính là cổ phiếu thƣờng và cổ phiếu ƣu đãi và cổ phiếu quỹ. a) Cổ phiếu thường Khái niệm: Cổ phiếu thƣờng là giấy chứng nhận sở hữu cổ phần thƣờng, cổ phiếu này xác nhận quyền sỡ hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần. Ngƣời mua cổ phiếu thƣờng sẽ trở thành cổ đông thƣờng hay cổ đông phổ thông. Đặc điểm: Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn, do đó, không có thời gian đáo hạn và không đƣợc hoàn lại vốn.
Các cổ đông đƣợc hƣởng cổ tức không cố định và cổ tức phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và phƣơng án phân chia lợi nhuận hàng năm của công ty. Cổ đông thƣờng có tính thanh khoản cao vì cổ phiếu thƣờng có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng. 7 Tính lƣu thông của của cổ phiếu tạo cho cổ phiếu có giá trị nhƣ một loại tải sản thực, tính lƣu thông giúp chủ sỡ hữu cổ phiếu có thể thực hiện các việc nhƣ thừa kế, tặng…. Cổ phiếu có tính tƣ bản giả tức là cổ phiếu có giá trị nhƣ tiền.
Tuy nhiên, cổ phiếu không phải là tiền và cổ phiếu chỉ có giá trị khi đƣợc đảm bảo bằng tiền. Mệnh giá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu. Phát hành cổ phiếu huy động vốn đem lại rủi ro cho tổ chức phát hành và rủi ro cho nhà đầu tƣ cổ phiếu. Giá cổ phiếu phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân nhƣ kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành cổ phiếu, tình hình chính trị, kinh tế xã hội của quốc gia và thế giới, và thông tin các nhà đầu tƣ có đƣợc không chính xác – thông tin bất đối xứng.
Các loại giá liên quan đến cổ phiếu thƣờng. - Giá trị nội tại (Intrinsic value): là giá trị thực của một loại cổ phiếu ở thời điểm hiện tại. Đây là căn cứ quan trọng để nhà đầu tƣ quyết định đầu tƣ vào cổ phiếu, so sánh với giá trị thị trƣờng và lựa chọn phƣơng án đầu tƣ có hiệu quả nhất. - Giá trị thị trƣờng: (Market value) Giá trị thị trƣờng của cổ phiếu là giá của cổ phiếu trên thị trƣờng tại một thời điểm nhất định.
Tuỳ theo quan hệ cung cầu mà giá cổ phiếu có thể thấp, cao hoặc bằng giá trị thực của cổ phiếu tại thời điểm mua bán. Quan hệ cung cầu của cổ phiếu chịu nhiều tác động của các nhân tố nhƣ kinh tế, chính trị, xã hội. Thị giá cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào thu nhập của cổ phiếu trong hiện tại và giá trị của các khoản đầu tƣ của công ty đó trong tƣơng lai. Nếu các nhà đầu tƣ tin tƣởng rằng công ty sẽ đạt mức tỷ suất lợi nhuận cao trong tƣơng lai thì nhà đầu tƣ sẽ chấp nhận mua cổ phiếu với giá cao hơn giá cổ phiếu hiện tại.
- Giá trị sổ sách (Booked value): “giá trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định”. 8 - Mệnh giá (Par value): Giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu là mệnh giá của cổ phiếu. Mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa.cùng với thời gian, khi công ty ngày càng phát triển, giá trị thực của cố phiếu cũng nhƣ giá bán của cổ phiếu trên thị trƣờng ngày càng xa mệnh giá cổ phiếu. Khi công ty mới thành lập, mệnh giá đƣợc tính nhƣ sau: Mệnh giá cổ phiếu mới Vốn điều lệ của công ty = phát hành Tổng số cổ phiếu đăng ký phát hành Phân loại cổ phiếu thƣờng: Theo khả năng thu nhập cổ phiếu thƣờng đƣợc chia thành các loại sau: Cổ phiếu hàng đầu (Blue chips): đặc điểm của cổ phiếu này là có thu nhập ổn định, rủi ro thấp và là cổ phiếu có giá trị vốn hoá thị trƣờng lớn.
Cổ phiếu tăng trƣởng (Growth stock): là cổ phiếu của một công ty có doanh số, thu thập và thị phần đang tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ của nền kinh tế và nhanh hơn mức trung bình ngành. Cổ phiếu thu nhập (Income stock): là cổ phiếu của các công ty thƣờng trả cổ tức cao hơn mức trung bình trên thị trƣờng. Cổ phiếu chu kỳ (Cyclical stock): là cổ phiếu của các công ty rất nhạy cảm theo sự thăng trầm của nền kinh tế. Cổ phiếu chu kỳ sẽ có giá tăng giảm theo chu kỳ của nền kinh tế.
Cổ phiếu theo mùa (Seasonal stock): là cổ phiếu của các công ty có thu nhập tăng cao vào những mùa nhất định trong năm (nghỉ hè, đầu năm học, giáng sinh, trung thu, năm mới,…) ảnh hƣởng đến thu nhập của cổ phiếu và giá cổ phiếu cũng chỉ tăng cao vào mùa kinh doanh. 9 Cổ phiếu phòng vệ (Defensive stock): là loại cổ phiếu không phụ thuộc vào chu kỳ tăng giảm của nền kinh tế nhƣ cổ phiếu các ngành năng lƣợng, thực phẩm, y tế, dịch vụ công cộng… Cổ phiếu giá trị (Concept stock): là cổ phiếu của công ty nhỏ hoặc mới đƣợc thành lập không đƣợc để ý và đánh giá cao cho đến khi bất ngờ công ty tung ra một sản phẩm có tính đột phá thu lợi rất cao, công ty có thể tăng trƣởng gấp đôi, gấp ba… Cổ phiếu hạng xu (Penny stock): là cổ phiếu có giá trị thấp của các công ty có quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, ngành nghề sản xuất không có gì đặc biệt, quản trị công ty yếu, không có định hƣớng rõ rang, tính thanh khoản kém, không đƣợc nhà đầu tƣ để ý.