TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƢỜNG ---------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG QUẦN THỂ VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI THÚ QUÝ TẠI VƢỜN QUỐC GIA BÁI TỬ LONG, TỈNH QUẢNG NINH NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG MÃ NGÀNH: 302 Giáo viên hướng dẫn 1: TS. Nguyễn Đắc Mạnh Giáo viên hướng dẫn 2: ThS. Giang Trọng Toàn Sinh viên thực hiện: Đỗ Thị Hồng Mã sinh viên: 1353021888 Lớp: 58E – QLTNR Khóa học: 2013 – 2017 Hà Nội, 2017 LỜI CẢM ƠN Khóa luận này sử dụng số liệu điều tra thực địa về khu hệ thú được thực hiện bởi Trung tâm Môi trường và Phát triển lâm nghiệp bền vững trong Dự án “Điều tra đánh giá thực trạng các loài nguy cấp, quý, hiếm làm căn cứ xây dựng kế hoạch quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Bái Tử Long”. Nhân dịp hoàn thành bản khóa luận, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Vườn Quốc gia Bái Tử Long và PGS. Vũ Tiến Thịnh – Chủ nhiệm Dự án đã cho phép tôi sử dụng dữ liệu của Dự án để làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Nguyễn Đắc Mạnh và Ths. Giang Trọng Toàn đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong việc định hướng nghiên cứu; xử lý số liệu và hoàn thiện bản khóa luận này. Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ và nhân viên Vườn Quốc gia Bái Tử Long đã giúp đỡ tôi trong thời gian tôi khảo sát và điều tra, thu thập các thông tin bổ sung cho nghiên cứu này. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã ủng hộ và động viên tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình tôi học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp. Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian và kỹ năng thực hiện nghiên cứu còn hạn chế nên nên bản khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong các thầy cô và bạn đọc đóng góp ý kiến để bản Khóa luận được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 5 năm 2017 Sinh viên Đỗ Thị Hồng 2 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Dịch nghĩa BQL Ban quản lí BTTN Bảo tồn thiên nhiên CITES Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora CP Chính phủ ĐDSH Đa dạng sinh học FFI Tổ chức Động vật thế giới GPS Máy định vị tọa độ IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới KBTTN Khu Bảo tồn Thiên nhiên LNXH Lâm nghiệp xã hội LSNG Lâm sản ngoài gỗ MV Mẫu vật NĐ Nghị định NXB Nhà xuất bản PGS. TS Phó Giáo sư Tiến sĩ PV Phỏng vấn QĐ – UB Quyết định - Ủy ban QS Quan sát SC Sinh cảnh SĐVN Sách đỏ Việt Nam SFNC Dự án Lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên STT Số thứ tự Ths Thạc sĩ TL Tài liệu TT Thứ tự UBND Ủy ban nhân dân VQG Vườn Quốc gia 3 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG DANH MỤC HÌNH ĐẶT VẤN ĐỀ . 1 PHẦN I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU . Lịch sử nghiên cứu lớp thú ở Việt Nam. Thời kỳ trước năm 1945 . Thời kỳ 1945 đến 1954 . Thời kỳ từ 1954 đến 1975 . Thời kỳ từ 1975 đến nay . Cơ sở xác định các loài thú quý hiếm . 7 PHẦN II: MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . Mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu chung . Mục tiêu cụ thể . Đối tượng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu . Về địa điểm . Về thời gian . Nội dung nghiên cứu . phương pháp nghiên cứu . Phương pháp kế thừa tài liệu. Phương pháp phỏng vấn. Phương pháp điều tra theo tuyến . phương pháp xử lí số liệu . 20 4 PHẦN III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU . Điều kiện tự nhiên . Vị trí địa lý . Đặc điểm địa hình, địa mạo . Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng . Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn . Đặc điểm các hệ sinh thái chính. Đặc điểm khu hệ động thực vật. Đặc điểm kinh tế xã hội . 28 PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN . Thành phần các loài thú quý hiếm tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long. Thành phần các loài thú tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long . Thành phần các loài thú quý, hiếm tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long. Tình trạng của một số loài thú quý hiếm tại VQG Bái Tử Long . Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) . Các loài trong họ Cầy. Đặc điểm sinh cảnh và nơi bắt gặp các loài thú quý hiếm tại khu vực nghiên cứu . Mô tả sinh cảnh VQG Bái Tử Long . Nơi bắt gặp các loài thú quý hiếm theo các dạng sinh cảnh . Các hoạt động của con người gây ra mối đe dọa đến các loài thú quý hiếm tại VQG Bái Tử Long . Làm giảm kích cỡ quần thể các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm:. Gây nhiễu loạn sinh cảnh sống của động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm . Phá hủy sinh cảnh sống của động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm . Đề xuất một số biện pháp bảo tồn các loài thú quý hiếm tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long . Nhóm giải pháp giảm thiểu các mối đe dọa. Nhóm giải pháp về chương trình điều tra, giám sát . Nhóm giải pháp về kêu gọi nguồn hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động bảo tồn loài . 55 KẾT LUẬN- TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ . 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 6 DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Kết quả phỏng vấn người dân địa phương . Thông tin về các tuyến điều tra thú quý hiếm tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long . Biểu điều tra thú theo tuyến.4: Biểu điều tra các mối đe dọa đến khu hệ thú ở VQG Bái Tử Long19 Bảng 2.5: Thành phần các loài thú tại VQG Bái Tử Long .6: Danh sách các loài thú quý hiếm tại VQG Bái Tử Long .7: Tổng hợp kết quả đánh giá các mối đe dọa .1: Dân số và thành phần dân tộc của các xã thuộc VQG Bái Tử Long .1: Danh sách các loài thú tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long .2: Thành phần các loài thú quý hiếm tại VQG Bái Tử Long .3: Đặc điểm ổ sinh thái của hai loài khỉ tại VQG Bái Tử Long . Đặc điểm ổ sinh thái của 2 loài Cầy tại VQG Bái Tử Long. 48 7 DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Các cấp độ đánh giá mức độ đa dạng của các loài trong Sách đỏ .1: Vị trí địa lý Vườn Quốc gia Bái Tử Long.1: Mức độ đa dạng của các bộ thú quý hiếm tại VQG Bái Tử Long .2: Khỉ vàng ghi nhận tại Trà Thần, núi đá phía Bắc Trà Ngọ Lớn .3: Khỉ đuôi dài ghi nhận gần khe Tranh, trung tâm đảo Ba Mùn .4: Dấu phân của Rái cá vuốt bé ghi nhận gần hang Cái Đé, núi đá phía Bắc Trà .5: Rái cá lớn ghi nhận tại mép biển khu vực Ụ Chuối, trung tâm đảo Ba Mùn .6: Dấu vết ăn của Nai đen ghi nhận gần Miếu Danh, trung tâm đảo Ba Mùn .7: Dấu chân của Nai đen ngay dưới vết ăn ghi nhận gần Miếu Danh, trung tâm Ba Mùn . 43 8 ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên thú ở Việt Nam khá đa dạng với 322 loài, 155 giống, 43 họ và 15 bộ thú (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009); trong số đó có 78 loài thú đặc hữu. Các loài thú có giá trị cao về mặt thực phẩm, dược liệu và thương mại nên là đối tượng săn bắt chủ yếu của thợ săn. Thực tiễn cho thấy, trước những năm 1986, Việt Nam được coi là thiên đường của nghề săn bắn. Các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên là những khu vực có tài nguyên động vật rừng phong phú (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998). Nhưng hiện nay, số lượng các loài thú bị suy giảm rất mạnh ở ngoài tự nhiên và rất hiếm gặp. Trong Sách đỏ Việt Nam (2007) đã thống kê được 94 loài thú đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và đặc biệt đã xác định được 4 loài tuyệt chủng hoàn toàn là loài Cầy rái cá (Sinogale Benenttii), Heo vòi (Tapirus indicus), Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatreensis), Bò xám (Bos Sauveli). Và gần đây nhất là năm 2010, cá thể Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) cuối cùng đã xác định bị bắn chết tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. Vì vậy, việc bảo vệ các loài thú là rất cần thiết. Nhận thức được sự mất mát về nguồn tài nguyên rừng, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều hình thức bảo tồn như thành lập gần 200 khu rừng đặc dụng nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên tại chỗ. Vườn Quốc gia Bái Tử Long là một trong số các khu rừng đó. Vườn quốc gia Bái Tử Long được thành lập theo quyết định số 85/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 1 tháng 6 năm 2001 với tổng diện tích 15.783ha, trong đó diện tích rừng, đất rừng là 6.650ha diện tích mặt nước biển, vụng áng, bãi triều ngập nước. VQG Bái Tử Long được thành lập nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động, thực vật đặc trưng cho khu vực biển đảo miền Bắc Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay, tại VQG Bái Tử Long đã có một số nghiên cứu về tài nguyên của khu vực và đã sơ bộ ghi nhận được 2.235 loài sinh vật, tiêu biểu là 37 loài thú, 96 loài chim, 1 37 loài lưỡng cư và bò sát. Trong số đó có 9 loài thú có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) như: Lợn rừng (Sus scrofa), Nai (Rusa unicolor), Khỉ vàng (Macaca mulatta siamica, Kloss, 1917), Sơn dương(Capricornis milneedwardsii maritimus). Tuy nhiên, hiện nay các loài thú tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long đang bị suy giảm nhanh chóng bởi các hoạt động săn bắn trái phép của con người. Do vậy, nghiên cứu về hiện trạng các loài thú và đặc biệt là các loài thú quý hiếm tại VQG Bái Tử Long rất có ý nghĩa về thực tiễn và khoa học. Xuất phát từ các lý do trên, tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu tình trạng quần thể và đặc điểm phân bố của các loài thú quý hiếm tại VQG Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh”. Đề tài được thực hiện nhằm bổ sung các thông tin về tình trạng quần thể và vùng bắt gặp các loài thú quý hiếm phục vụ công tác bảo tồn tài nguyên rừng của khu vực. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu lớp thú ở Việt Nam 1.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng các loài thú nguy cấp và quý hiếm tại Vườn quốc gia Bái Tử Long, ...
Điều tra, đánh giá thực trạng các loài nguy cấp, quý hiếm Vườn quốc gia Bái Tử Long. Cơ sở xây dựng kế hoạch quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học.
Trường đại học
Trường Đại học Lâm nghiệpChuyên ngành
Quản lý tài nguyên rừngNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Khóa luận tốt nghiệp2017
Phí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Khám phá giá trị đa dạng sinh học Vườn quốc gia Bái Tử Long
Vườn quốc gia (VQG) Bái Tử Long, được thành lập theo quyết định số 85/2001/QĐ-TTg, là một khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam. Nằm trong Vịnh Bái Tử Long, VQG này sở hữu một hệ sinh thái biển đảo nhiệt đới độc đáo, bao gồm 6.650 ha rừng và đất rừng cùng với hơn 9.000 ha mặt nước biển. Sự đa dạng về địa hình, từ các đảo đất, đảo đá vôi đến các thung áng và rừng ngập mặn, đã tạo nên một môi trường sống lý tưởng cho hàng ngàn loài sinh vật. Theo các thống kê sơ bộ, VQG Bái Tử Long là nơi cư ngụ của 2.235 loài, trong đó có một hệ động thực vật VQG Bái Tử Long vô cùng phong phú. Việc điều tra và đánh giá thực trạng các loài là bước đi nền tảng để xây dựng kế hoạch quản lý tài nguyên thiên nhiên hiệu quả. Công tác bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Bái Tử Long không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển bền vững của khu vực, đặc biệt là thông qua các hoạt động du lịch sinh thái. Việc hiểu rõ giá trị cốt lõi của hệ sinh thái nơi đây là cơ sở để nhận diện các thách thức và đề ra các giải pháp bảo tồn phù hợp, đảm bảo sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận sự hiện diện của nhiều loài đặc hữu và các loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, nhấn mạnh tính cấp thiết của việc bảo vệ kho báu thiên nhiên này.
1.1. Vị thế độc đáo của hệ sinh thái biển đảo nhiệt đới
VQG Bái Tử Long nổi bật với 6 kiểu hệ sinh thái chính, bao gồm rừng lá rộng thường xanh trên núi đất, rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái thung áng, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và rạn san hô. Sự đan xen này tạo ra một hành lang đa dạng sinh học phức tạp, hỗ trợ cho sự tồn tại của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Đặc biệt, hệ sinh thái rừng trên các đảo như Ba Mùn, Trà Ngọ Lớn đóng vai trò là "lá phổi xanh" và là nơi trú ẩn an toàn cho nhiều loài thú. Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Thắng và Bùi Hà Ly (2014), đảo Ba Mùn là nơi tồn tại của quần thể Nai đen (Rusa unicolor) duy nhất trong vùng Đông Bắc Việt Nam, cho thấy giá trị bảo tồn không thể thay thế của khu vực.
1.2. Tổng quan hệ động thực vật và các loài ưu tiên bảo tồn
Kết quả tổng hợp từ nhiều đợt điều tra đã ghi nhận 794 loài thực vật bậc cao và 154 loài động vật có xương sống trên cạn. Trong đó, có 53 loài thú, 66 loài chim và 30 loài bò sát. Đáng chú ý, có tới 15 loài thú, 6 loài chim và 10 loài bò sát được xếp vào nhóm nguy cấp, quý, hiếm. Các loài này không chỉ nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) mà còn được liệt kê trong danh lục IUCN và các phụ lục của Công ước CITES. Việc xác định các loài ưu tiên cho công tác bảo tồn loài nguy cấp là nhiệm vụ trọng tâm, giúp tập trung nguồn lực và xây dựng các chương trình hành động cụ thể, hiệu quả.
II. Cách nhận diện các mối đe dọa đa dạng sinh học ở Bái Tử Long
Các mối đe dọa đa dạng sinh học tại VQG Bái Tử Long đến từ nhiều phía, bao gồm cả tác động trực tiếp và gián tiếp từ hoạt động của con người cũng như các yếu tố tự nhiên. Thách thức lớn nhất đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Bái Tử Long là hoạt động săn bắn và khai thác tài nguyên trái phép. Nghiên cứu của Đỗ Thị Hồng (2017) chỉ ra rằng, nhiều loài thú có giá trị cao như Nai, Sơn dương, các loài Cầy, là đối tượng săn bắt chủ yếu. Các hoạt động này không chỉ làm giảm kích thước quần thể mà còn gây nhiễu loạn sinh cảnh sống, phá vỡ cấu trúc chuỗi thức ăn tự nhiên. Bên cạnh đó, áp lực từ dân số sinh sống trong vùng lõi và vùng đệm (4.482 hộ dân) cũng là một vấn đề nan giải. Sinh kế của người dân, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc thiểu số, còn phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên rừng. Ngoài ra, biến đổi khí hậu và bảo tồn là một thách thức mới nổi. Nước biển dâng có nguy cơ thu hẹp sinh cảnh sống của các loài trên đảo, đặc biệt là các loài thú lớn có vùng hoạt động rộng. Việc nhận diện chính xác và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng mối đe dọa là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng một kế hoạch quản lý và phục hồi hệ sinh thái toàn diện.
2.1. Tác động từ hoạt động săn bắt và khai thác trái phép
Hoạt động săn bắn trái phép là mối đe dọa trực tiếp và nghiêm trọng nhất, làm suy giảm nhanh chóng số lượng các loài thú quý hiếm. Theo tài liệu nghiên cứu, việc sử dụng bẫy, súng săn và các phương tiện khác đã đẩy nhiều quần thể đến bờ vực tuyệt chủng cục bộ. Khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ cũng góp phần phá hủy và phân mảnh sinh cảnh, làm mất nơi ở và nguồn thức ăn của động vật hoang dã. Đây là nguyên nhân chính gây suy giảm đa dạng sinh học Vườn quốc gia Bái Tử Long.
2.2. Áp lực từ phát triển kinh tế và sự tham gia của cộng đồng
Với 10 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có nhóm người Dao mới di cư với sinh kế chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng, áp lực lên hệ sinh thái là rất lớn. Các hoạt động canh tác, chăn thả gia súc, và xây dựng cơ sở hạ tầng có thể xâm lấn vào khu vực bảo vệ. Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng cũng là chìa khóa cho giải pháp. Việc thiếu các chương trình sinh kế thay thế bền vững khiến người dân địa phương khó có thể từ bỏ việc khai thác tài nguyên. Do đó, các giải pháp bảo tồn cần gắn liền với việc cải thiện đời sống và nâng cao nhận thức cho cộng đồng.
III. Phương pháp điều tra thực trạng các loài nguy cấp tại Bái Tử Long
Để có được bức tranh toàn cảnh về thực trạng các loài, dự án “Điều tra đánh giá thực trạng các loài nguy cấp, quý, hiếm” đã áp dụng một hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học và bài bản. Cốt lõi của hoạt động này là phương pháp khảo sát thực địa theo tuyến (line transect). Các nhà nghiên cứu đã thiết lập 7 tuyến điều tra với tổng chiều dài 24,6 km, đi qua các dạng sinh cảnh đặc trưng như rừng phục hồi, rừng nghèo, rừng núi đá, rừng ngập mặn. Phương pháp này cho phép ghi nhận trực tiếp sự hiện diện của các loài qua quan sát, hoặc gián tiếp qua dấu vết như phân, dấu chân, vết ăn. Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được sử dụng để thu thập thông tin từ các đối tượng am hiểu địa phương như cán bộ kiểm lâm và người dân bản địa. Cách tiếp cận này giúp khoanh vùng phân bố và ước tính sơ bộ về tình trạng quần thể của các loài khó quan sát. Toàn bộ dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng như Mapinfo để xây dựng bản đồ phân bố, làm cơ sở vững chắc cho việc xây dựng kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Bái Tử Long. Việc kết hợp nhiều phương pháp giúp tăng độ chính xác và tin cậy của kết quả, là nền tảng cho công tác giám sát đa dạng sinh học lâu dài.
3.1. Kỹ thuật điều tra theo tuyến và quan sát thực địa
Các tuyến điều tra được bố trí khoa học tại các khu vực trọng điểm như đảo Ba Mùn và Trà Ngọ Lớn. Trong quá trình di chuyển với tốc độ 1,5-2,5 km/h, nhóm nghiên cứu sử dụng ống nhòm và máy định vị GPS để ghi nhận tọa độ, số lượng cá thể và hành vi của các loài gặp được. Các dấu vết gián tiếp được chụp ảnh, đo đạc và mô tả chi tiết, giúp xác định sự tồn tại của cả những loài hoạt động về đêm hoặc nhút nhát. Đây là phương pháp nền tảng trong các nghiên cứu về động vật hoang dã.
3.2. Phân tích dữ liệu và đối chiếu với các danh lục bảo tồn
Sau khi thu thập, dữ liệu được tổng hợp và phân tích để lập danh sách thành phần loài. Tình trạng bảo tồn của mỗi loài được xác định bằng cách đối chiếu với các tài liệu uy tín như Sách Đỏ Việt Nam (2007), danh lục IUCN (2016), Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Công ước CITES (2015). Quá trình này giúp phân loại các loài theo mức độ nguy cấp, từ đó xác định các loài cần ưu tiên cho chương trình bảo tồn loài nguy cấp và các hoạt động quản lý khác.
IV. Báo cáo thực trạng các loài nguy cấp quý hiếm tại VQG Bái Tử Long
Kết quả nghiên cứu đã xác định được 52 loài thú thuộc 17 họ và 6 bộ tại VQG Bái Tử Long. Trong số này, 14 loài được xác định là nguy cấp, quý, hiếm, chiếm 27% tổng số loài thú. Bộ Ăn thịt (Carnivora) là nhóm có nhiều loài quý hiếm nhất với 8 loài, bao gồm các loài như Mèo rừng (Prionailurus bengalensis), Rái cá thường (Lutra lutra) và Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea). Đây đều là những loài được pháp luật Việt Nam bảo vệ ở cấp độ cao (nhóm IB, Nghị định 32). Nghiên cứu cũng cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng của một số loài tiêu biểu. Khỉ vàng (Macaca mulatta) và Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) có số lượng tương đối ổn định và phân bố rộng. Ngược lại, Nai đen (Rusa unicolor) chỉ được ghi nhận tại đảo Ba Mùn và đang có dấu hiệu suy giảm do săn bắn. Ba loài được đánh giá là rất hiếm gặp gồm Báo lửa (Catopumatemminckii), Báo gấm (Neofelis nebulosa) và Sơn dương (Capricornis milneedwardsii), hiện có kích thước quần thể rất nhỏ. Những phát hiện này khẳng định tầm quan trọng của VQG Bái Tử Long như một "điểm nóng" về bảo tồn, đồng thời gióng lên hồi chuông cảnh báo về tương lai của nhiều loài thú nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Bái Tử Long.
4.1. Danh lục các loài thú quý hiếm theo Sách Đỏ và Nghị định 32
Trong 14 loài quý hiếm, có 8 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), với 3 loài ở cấp Nguy cấp (EN) và 5 loài ở cấp Sẽ nguy cấp (VU). Về mặt pháp lý, 12 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, trong đó 7 loài thuộc nhóm IB (nghiêm cấm khai thác, sử dụng) và 5 loài thuộc nhóm IIB (hạn chế khai thác). Tất cả 14 loài đều nằm trong các phụ lục của Công ước CITES, cho thấy giá trị bảo tồn mang tầm quốc tế của khu vực.
4.2. Tình hình quần thể các loài ưu tiên Khỉ Rái cá và Nai đen
Khảo sát cho thấy quần thể Khỉ vàng và Khỉ đuôi dài khá phổ biến, đặc biệt tại khu vực đảo Trà Ngọ Lớn. Các loài Rái cá được ghi nhận qua dấu vết ở nhiều khu vực ven biển, cho thấy sinh cảnh suối và vùng triều vẫn còn tương đối tốt. Tuy nhiên, quần thể Nai đen trên đảo Ba Mùn lại rất dễ bị tổn thương do không gian sống hạn hẹp và áp lực săn bắn. Việc bảo vệ quần thể này đòi hỏi các giải pháp bảo tồn tại chỗ (in-situ) cấp bách.
V. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch quản lý bảo tồn tại VQG Bái Tử Long
Dựa trên kết quả điều tra thực trạng, một kế hoạch quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Bái Tử Long cần được xây dựng trên ba nhóm giải pháp chính. Thứ nhất, nhóm giải pháp giảm thiểu các mối đe dọa trực tiếp, tập trung vào việc tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi săn bắn và khai thác trái phép. Thứ hai, nhóm giải pháp về chương trình điều tra, giám sát dài hạn. Cần thiết lập một hệ thống giám sát đa dạng sinh học thường xuyên để theo dõi diễn biến quần thể của các loài nguy cấp, đặc biệt là các loài rất hiếm như Sơn dương, Báo gấm. Đồng thời, cần đẩy mạnh nghiên cứu về sinh thái học của các loài này để có cơ sở khoa học cho các biện pháp phục hồi hệ sinh thái. Thứ ba, nhóm giải pháp về kêu gọi nguồn lực và nâng cao nhận thức. Cần tăng cường hợp tác quốc tế, tìm kiếm hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các hoạt động bảo tồn. Quan trọng hơn cả là phải lồng ghép công tác bảo tồn với phát triển bền vững, tạo sinh kế thay thế cho cộng đồng địa phương thông qua các mô hình như du lịch sinh thái, qua đó biến họ thành những người bảo vệ tài nguyên hiệu quả nhất.
5.1. Giải pháp bảo tồn tại chỗ in situ và chuyển chỗ ex situ
Ưu tiên hàng đầu là các biện pháp bảo tồn tại chỗ (in-situ), bao gồm bảo vệ nghiêm ngặt sinh cảnh sống, thiết lập các khu vực bảo vệ lõi cho các loài cực kỳ nguy cấp, và phục hồi các khu rừng bị suy thoái. Đối với các loài có quần thể quá nhỏ, giải pháp bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) có thể được xem xét, ví dụ như xây dựng chương trình nhân giống bảo tồn tại các trung tâm cứu hộ. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế và mục tiêu cuối cùng vẫn là tái thả chúng về tự nhiên.
5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng và phát triển sinh kế
Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định thành công. Cần xây dựng các cơ chế đồng quản lý, chia sẻ lợi ích từ tài nguyên rừng và du lịch. Các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ phát triển các sản phẩm địa phương gắn với thương hiệu VQG Bái Tử Long sẽ giúp giảm sự phụ thuộc của người dân vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, tạo ra một mô hình bảo tồn hài hòa và bền vững.
5.3. Tích hợp kế hoạch vào chương trình hành động quốc gia
Kế hoạch quản lý của VQG Bái Tử Long cần được tích hợp chặt chẽ với chương trình hành động quốc gia về đa dạng sinh học. Điều này không chỉ đảm bảo sự đồng bộ về chính sách mà còn giúp tiếp cận các nguồn lực từ trung ương, các dự án quốc tế, và sự hỗ trợ kỹ thuật từ các viện nghiên cứu, chuyên gia đầu ngành, nâng cao hiệu quả và tầm ảnh hưởng của các hoạt động bảo tồn tại địa phương.
TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Bạn đang xem trước tài liệu:
Điều tra đánh giá thực trạng các loài nguy cấp quý hiếm làm căn cứ xây dựng kế hoạch quản lý bảo tồn đa dạng sinh học vườn quốc gia bái tử long
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Đỗ Thị Hồng
Người hướng dẫn: Ts. Nguyễn Đắc Mạnh
Trường học: Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Đề tài: Nghiên cứu tình trạng quần thể và đặc điểm phân bố của các loài thú quý hiếm tại vườn quốc gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh
Loại tài liệu: Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản: 2017
Địa điểm: Hà Nội
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ