Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quyền được làm cha, làm mẹ là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người cần được pháp luật bảo vệ. Gia đình giữ vị trí là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho sự phát triển của quốc gia, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn tại buổi hội thảo về hôn nhân và gia đình ngày 10/10/1959: "Quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình".
Tuy nhiên, thực trạng vô sinh và hiếm muộn đang trở thành vấn đề đáng báo động trên phạm vi toàn cầu. Số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (được tác giả viện dẫn trong văn bản dưới tên WTO) cho thấy cứ 6 người trưởng thành thì có 1 người bị vô sinh. Tại Việt Nam, tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản mắc vô sinh hoặc hiếm muộn chiếm khoảng 7,7%; trong đó tình trạng vô sinh thứ phát (vô sinh sau một lần có thai) gia tăng từ 15% đến 20% mỗi năm. Nguyên nhân vô sinh phân bổ đồng đều ở cả hai giới khi nam giới chiếm 40%, nữ giới chiếm 40%, trường hợp do cả hai vợ chồng chiếm 10% và 10% còn lại không rõ nguyên nhân.
Sự tiến bộ của kỹ thuật y học hỗ trợ sinh sản (như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm - IVF) đã mở ra hy vọng cho các cặp vợ chồng hiếm muộn, nhưng không phải trường hợp bệnh lý nào cũng có thể tự mang thai. Do đó, mang thai hộ (MTH) xuất hiện như một giải pháp sau cùng. Dù vậy, hoạt động này tiềm ẩn nhiều hệ lụy pháp lý và đạo đức, đặc biệt là nguy cơ thương mại hóa biến phụ nữ thành đối tượng "đẻ thuê", "đẻ mướn". Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa điều chỉnh và Nghị định số 12/2003/NĐ-CP (khoản 1 Điều 6) đã nghiêm cấm hoàn toàn hành vi mang thai hộ. Thực tế cấm đoán này dẫn đến tình trạng mất kiểm soát xã hội, xuất hiện các đường dây dịch vụ mang thai hộ ngầm với giá khoảng 50 triệu đồng/ca vào năm 2007, hoặc các vụ việc đưa phụ nữ ra nước ngoài mang thai hộ (tiêu biểu như vụ 14 cô gái Việt Nam tham gia đường dây đẻ thuê tại Thái Lan).
Trước yêu cầu thực tiễn, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có bước đổi mới nhân văn khi chính thức cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ) và nghiêm cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại (MTHVMĐTM). Dù vậy, do đây là chế định mới nên các quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo vẫn bộc lộ nhiều điểm chưa rõ ràng, mâu thuẫn giữa luật và văn bản dưới luật, gây khó khăn cho việc áp dụng.
Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Dựa trên cơ sở hệ thống quy định pháp luật và chế định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ):
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dưới góc độ bảo đảm quyền con người được pháp luật bảo vệ.
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
- Trình bày kinh nghiệm pháp chế của một số quốc gia trên thế giới về mang thai hộ để so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam.
- Nhận xét ưu điểm và bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các chủ thể tham gia, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện pháp luật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các điều kiện pháp lý để thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo điều chỉnh người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Nghị định số 98/2016/NĐ-CP.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam từ thời điểm pháp luật bắt đầu thừa nhận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (năm 2014) cho đến nay.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam, kết hợp các định nghĩa học thuật chuyên sâu:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 2013 (Điều 20 về quyền bất khả xâm phạm thân thể); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 3, các điều từ 93 đến 100, trọng tâm là Điều 95 và Điều 96); Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; Nghị định số 98/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP; Thông tư số 12/2012/TT-BYT; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Luật Nuôi con nuôi năm 2020.
- Hệ thống khái niệm nền tảng: Định nghĩa y - pháp lý về "thai" (khoản 1 Điều 2 Thông tư 12/2012/TT-BYT), "phôi" (khoản 5 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP), "vô sinh" (Nghị định 10/2015/NĐ-CP). Định nghĩa mang thai hộ theo góc nhìn y khoa của Bệnh viện Hùng Vương; khái niệm pháp lý của Giáo sư Kirsty Horsey (Trường Luật Kent); quan điểm chuyên môn của ThS. Nguyễn Thị Liễu. Đặc biệt, khóa luận tiếp thu định nghĩa về "điều kiện mang thai hộ" từ Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Duyên (Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh): là một hoặc tổng hợp các yêu cầu mang tính chất bắt buộc mà các chủ thể tham gia phải đáp ứng nhằm kiểm soát việc mang thai hộ trong khuôn khổ pháp luật và là cơ sở pháp lý để việc mang thai hộ có hiệu lực.
- Tài liệu học thuật kế thừa: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Trường Đại học Luật Hà Nội (2021) và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Lê Huyền (2018); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Vũ Tùng; các bài viết chuyên san của Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường, Huỳnh Thị Trúc Giang, Vũ Thị Hương.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin từ văn bản luật, sách chuyên khảo, giáo trình, tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Công thương, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, Tạp chí Khoa học ĐH Cần Thơ), kỷ yếu hội thảo và dữ liệu y tế chính thống nhằm thiết lập cơ sở lý thuyết vững chắc.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy phạm của Việt Nam với hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia đại diện cho các xu hướng lập pháp khác nhau trên thế giới (Anh, Đan Mạch, Úc, Ấn Độ, Thái Lan, Nga, Ukraina, Pháp, Đức, Trung Quốc), qua đó nhận diện những khoảng trống và rút ra kinh nghiệm hoàn thiện cho Việt Nam.
Nguồn dữ liệu của đề tài là dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ văn bản luật, số liệu y tế công bố từ Bệnh viện Hùng Vương, báo cáo của Cơ quan Thụ tinh nhân tạo và Quản lý Phôi Vương quốc Anh (HFEA), cùng các vụ việc pháp lý điển hình tại Thái Lan, Trung Quốc, Pháp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ các giá trị lý luận nền tảng của chế định mang thai hộ:
- Khái niệm và phân loại: Mang thai hộ là việc người phụ nữ mang thai và sinh con hộ cho cặp vợ chồng khác. Về mặt kỹ thuật, MTH hiện đại phân tách thành hai dạng: mang thai hộ mang tính di truyền (dùng noãn người mang thai hộ) và mang thai hộ thai thế/hoàn toàn (sử dụng phôi tạo từ noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng qua kỹ thuật IVF cấy vào tử cung người mang thai hộ). Pháp luật Việt Nam định nghĩa MTHVMĐNĐ tại khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khẳng định bản chất tự nguyện, vô vụ lợi, phân biệt triệt để với MTHVMĐTM.
- Đặc điểm của điều kiện MTHVMĐNĐ: (1) Tạo cơ sở pháp lý để xác định quyền và nghĩa vụ các bên; (2) Luôn hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền lợi các bên tham gia trên cơ sở tự nguyện; (3) Mang tính bắt buộc tuyệt đối đối với mọi chủ thể nhằm ngăn ngừa biến tướng thương mại.
- Ý nghĩa của việc đặt ra điều kiện: Bảo vệ sức khỏe, tâm lý cho người mang thai hộ; bảo đảm quyền lợi cho đứa trẻ sinh ra có cùng huyết thống với cha mẹ nhờ mang thai hộ, tránh nguy cơ bị chối bỏ hoặc tranh chấp; hạn chế thương mại hóa và cung cấp căn cứ pháp lý để Tòa án giải quyết khi phát sinh tranh chấp.
- Các yếu tố tác động đến điều kiện MTHVMĐNĐ: (1) Yếu tố văn hóa, phong tục tập quán (quan niệm Á Đông coi trọng quan hệ dòng tộc, huyết thống, tâm lý "cha truyền con nối", tư tưởng trọng nam khinh nữ); (2) Yếu tố tâm lý, đạo đức (dư luận xã hội về hiện tượng "đẻ thuê", áp lực tâm lý của người mang thai hộ và khao khát có con của cặp vợ chồng); (3) Yếu tố kinh tế - xã hội (sự gia tăng tỷ lệ vô sinh tạo sức ép thúc đẩy luật pháp phải điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thực tiễn).
- Kinh nghiệm quốc tế về mang thai hộ: Tác giả phân chia các quốc gia trên thế giới thành 3 nhóm lập pháp rõ rệt:
| Nhóm quốc gia |
Đại diện điển hình |
Đặc điểm quy định pháp lý chính |
Dữ liệu / Vụ việc thực tế ghi nhận |
| Chỉ công nhận MTH vì mục đích nhân đạo |
Vương quốc Anh, Đan Mạch, Úc, Ấn Độ, Thái Lan |
Nghiêm cấm thương mại hóa; kiểm soát chặt chẽ điều kiện y tế, độ tuổi; cho phép thanh toán các chi phí y tế hợp lý. Đa số chỉ áp dụng cho vợ chồng vô sinh hợp pháp. |
- Anh: HFEA ghi nhận 108 ca MTH, 71 trẻ sinh ra từ 61 người MTH (2014 - 9/2021). - Úc: Bang Nam Úc quy định độ tuổi từ 25; ACT từ 18 tuổi. - Ấn Độ: Đạo luật 2019 cấm thương mại sau lạm dụng phụ nữ nghèo; bắt buộc bảo hiểm biến chứng 16 tháng. - Thái Lan: Luật 2015 cấm thương mại sau bê bối bé Gammy mắc hội chứng Down bị bỏ rơi và vụ Mitsutoki Shigeta thuê đẻ 16 đứa con. |
| Cho phép mọi hình thức MTH (kể cả thương mại) |
Nga, Ukraina |
Xem MTH là một loại hình dịch vụ hợp pháp; hợp đồng MTH có hiệu lực kèm trách nhiệm tài chính; thủ tục nhanh gọn, cha mẹ dự định được đứng tên giấy khai sinh. |
- Nga: Hợp pháp hóa từ Luật Gia đình 1997, ca đầu năm 1995; năm 2010 Tòa án Moscow công nhận nam độc thân làm cha qua MTH; chi phí khoảng 20.000 USD/EUR. - Ukraina: Dịch vụ tăng gấp 10 lần, hơn 1.000 trẻ sinh ra cho công dân 15 nước; chi phí khoảng 40.000 Euro (thấp hơn nhiều mức 60.000 Euro ở Canada và 100.000 Euro ở Mỹ, Hà Lan). |
| Tuyệt đối cấm mang thai hộ |
Pháp, Đức, Trung Quốc |
Xem MTH là hành vi xâm phạm thân thể, phẩm giá phụ nữ và vi phạm trật tự công cộng; chỉ thừa nhận người sinh ra đứa trẻ là mẹ hợp pháp. |
- Pháp: Án lệ Alma Mater (1989), Đạo luật Đạo đức sinh học (1994) cấm tuyệt đối. - Đức: Đạo luật Bảo vệ Thai nhi (1991) cấm mọi thủ tục liên quan. - Trung Quốc: Vụ án tại Thượng Hải (2016), Tòa án tuyên thỏa thuận MTH vô hiệu, đứa trẻ sinh ra bị xác định là con ngoài giá thú của người chồng. |
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mang thai hộ
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định của Việt Nam từ Điều 93 đến Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hướng dẫn tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và Nghị định số 98/2016/NĐ-CP:
- Lịch sử lập pháp: Đi từ giai đoạn cấm tuyệt đối theo Nghị định 12/2003/NĐ-CP đến bước ngoặt thừa nhận có điều kiện tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và tiếp tục hoàn thiện bằng Nghị định 98/2016/NĐ-CP.
- Điều kiện chung: Thực hiện trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện của cả hai bên; thể hiện bằng văn bản có công chứng (mẫu số 05 và mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị định 10/2015/NĐ-CP). Hợp đồng bắt buộc bao gồm các nội dung cốt lõi về thông tin chủ thể, cam kết quyền/nghĩa vụ, giải quyết tai biến sản khoa, trách nhiệm nhận con, trách nhiệm dân sự. Pháp luật cho phép vợ chồng ủy quyền cho nhau nhưng tuyệt đối cấm ủy quyền cho bên thứ ba.
- Điều kiện đối với bên nhờ mang thai hộ (khoản 2 Điều 95):
- Chủ thể là cặp vợ chồng hợp pháp: Đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp (không áp dụng cho người độc thân hay cặp đôi đồng giới). Các trường hợp ngoại lệ được bảo vệ quyền nhờ MTH gồm: nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và trường hợp kết hôn trái pháp luật nhưng đã khắc phục đủ điều kiện trước thời điểm Tòa án xét xử (theo TTLT 01/2016).
- Xác nhận y tế về việc người vợ không thể mang thai và sinh con dù đã áp dụng hỗ trợ sinh sản: Tác giả chỉ ra 2 cách hiểu trên thực tế: Cách hiểu thứ nhất buộc người phụ nữ phải trải qua hết mọi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dẫn đến chi phí tài chính quá lớn (theo dữ liệu Bệnh viện Hùng Vương, chi phí cố định cho một ca IVF là 20 triệu đồng, tiền thuốc từ 34 đến 45 triệu đồng, chưa kể phát sinh đông phôi, trữ phôi), tạo rào cản cho người nghèo. Cách hiểu thứ hai là chỉ cần kiểm tra y tế xác nhận bệnh lý cản trở mang thai (như không có tử cung, bệnh tim, u nang), giúp giảm tải chi phí nhưng tiềm ẩn nguy cơ trục lợi, xin xác nhận khống do tâm lý sợ sinh nở, sợ hỏng vóc dáng (vấn đề từng được BS. Hoàng Thị Diễm Tuyết cảnh báo tại hội thảo ngày 31/3/2015).
- Vợ chồng đang không có con chung: Nhằm bảo đảm tính nhân đạo hỗ trợ người thực sự chưa có con. Tuy nhiên, tác giả phát hiện điểm mâu thuẫn: điểm b khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ 2014 quy định "đang không có con chung", nhưng điểm d Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP lại quy định hồ sơ phải có xác nhận "chưa có con chung", vô hình trung tước bỏ quyền nhờ MTH của những cặp vợ chồng từng có con chung nhưng không may con bị mất.
- Được tư vấn toàn diện: Bắt buộc trải qua quy trình tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý theo quy định từ Điều 15 đến Điều 18 Nghị định 10/2015/NĐ-CP.
- Điều kiện đối với người mang thai hộ (khoản 3 Điều 95):
- Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng: Cụ thể hóa tại khoản 7 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP (chị em cùng cha khác mẹ/cùng mẹ khác cha; con cô, con dì, con chú, con bác, con cậu; chị em dâu, chị em họ). Quy định này nhằm duy trì sự tương trợ vô tư và giữ vững trật tự tôn ti dòng tộc, đồng thời tạo thuận lợi cho việc nhận con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi năm 2020 nếu xảy ra sự cố cần giám hộ.
- Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần: Đảm bảo kinh nghiệm sản khoa, giảm rủi ro sức khỏe và ngăn chặn việc biến MTH thành một "nghề". Tác giả chỉ ra bất cập là luật chưa làm rõ "mang thai hộ một lần" tính theo số lần mang thai thực tế hay số lần sinh con thành công (con sinh ra còn sống).
- Độ tuổi phù hợp và có chứng nhận y tế về khả năng mang thai hộ.
- Có văn bản đồng ý của người chồng trong trường hợp người phụ nữ mang thai hộ đang có hôn nhân hợp pháp.
- Đã được tư vấn đầy đủ về y tế, pháp lý và tâm lý.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với hệ thống dữ liệu pháp lý và thực tiễn:
- Làm rõ các điểm mâu thuẫn, khoảng trống quy phạm: Phát hiện sự xung đột thuật ngữ trực tiếp giữa Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ("đang không có con chung") và Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ("chưa có con chung"), chỉ ra nguy cơ hạn chế quyền chính đáng của các cặp vợ chồng có con bị mất. Vấn đề "mang thai hộ một lần" cũng được chỉ rõ là thiếu hướng dẫn thực hiện trong các trường hợp thai chết lưu, sảy thai.
- Phân tích gánh nặng tài chính trong điều kiện xác nhận y tế: Khóa luận chứng minh việc áp dụng cách hiểu bắt buộc trải qua tất cả biện pháp hỗ trợ sinh sản tạo ra gánh nặng lớn đối với các cặp vợ chồng nghèo, dựa trên số liệu chi phí thực tế tại Bệnh viện Hùng Vương (20 triệu đồng chi phí cố định và 34-45 triệu đồng tiền thuốc).
- Hệ thống hóa kinh nghiệm quốc tế: Xây dựng bức tranh toàn diện về 3 xu hướng lập pháp trên thế giới, trích dẫn số liệu xác thực từ Anh (HFEA: 108 người MTH, 71 trẻ sinh ra), chi phí tại Ukraina (40.000 Euro) so với Mỹ (100.000 Euro) và các vụ việc thay đổi luật pháp mang tính bước ngoặt tại Thái Lan, Ấn Độ.
- Hệ thống giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Về pháp luật dân sự và hôn nhân gia đình: Sửa đổi, hướng dẫn thống nhất tiêu chí "đang không có con chung" thay cho "chưa có con chung" trong các văn bản dưới luật; hướng dẫn rõ khái niệm "mang thai hộ một lần" theo hướng tính số lần sinh con sống thành công; cân nhắc mở rộng linh hoạt đối tượng người mang thai hộ ngoài quan hệ thân thích cùng hàng dưới sự phê duyệt của Hội đồng y khoa, học hỏi mô hình của Thái Lan và Anh để giải quyết khó khăn tìm người mang thai hộ.
- Về pháp luật chuyên ngành y tế: Ban hành quy trình chuẩn về việc xác nhận y khoa người vợ không thể mang thai, cho phép chẩn đoán trực tiếp bệnh lý thực thể mà không bắt buộc trải qua toàn bộ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tốn kém; bổ sung quy định bắt buộc về chế độ bảo hiểm y tế chi trả cho các biến chứng sản khoa sau sinh của người mang thai hộ (tham khảo kinh nghiệm bảo hiểm 16 tháng của Ấn Độ).
- Đóng góp học thuật tự thân của tác giả: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên đề có hệ thống, tiếp cận vấn đề điều kiện mang thai hộ đa chiều dưới lăng kính văn hóa - phong tục, tâm lý - đạo đức và kinh tế - xã hội, giúp bổ khuyết cho các giáo trình giảng dạy vốn chỉ dừng ở mức trích dẫn luật định mà chưa đi sâu vào bất cập thực thi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Tác giả thừa nhận kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế; đề tài chủ yếu phân tích dựa trên văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu thứ cấp đã công bố. Đề tài chưa triển khai được các khảo sát thực tế định lượng trên diện rộng về số lượng hồ sơ MTH được duyệt hoặc bị từ chối tại các bệnh viện phụ sản lớn, cũng như chưa tiếp cận được hệ thống bản án thực tế tại Tòa án do tính chất bảo mật đời tư của các quan hệ hôn nhân gia đình này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và Nghị định số 98/2016/NĐ-CP qua số liệu thống kê tại các cơ sở y tế được cấp phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ trên toàn quốc; nghiên cứu sâu hơn về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi xảy ra tai biến sản khoa, cùng cơ chế bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đặc thù dành riêng cho người mang thai hộ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Người học ngành Luật: Sinh viên đại học, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật So sánh cần tài liệu tham khảo có cấu trúc chặt chẽ và nguồn trích dẫn quy phạm đầy đủ.
- Cán bộ thực tiễn và cơ quan tư pháp: Luật sư, thẩm phán, công chứng viên, cán bộ hộ tịch cần làm rõ cơ sở pháp lý và điều kiện công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ, xác định cha mẹ cho trẻ sinh ra từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
- Cán bộ quản lý y tế và các cặp vợ chồng hiếm muộn: Cung cấp hiểu biết toàn diện về các điều kiện bắt buộc, quy trình tư vấn tâm lý - pháp lý - y tế, nhận diện các vướng mắc thủ tục trước khi tiến hành quy trình đề nghị mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
- Phần đáng tham khảo nhất: Tiểu mục kinh nghiệm quốc tế tại Chương 1 (hệ thống hóa chi tiết 3 mô hình pháp lý) và tiểu mục phân tích điều kiện đối với người nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ tại Chương 2 (vạch rõ xung đột câu chữ giữa Luật và Nghị định).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn nào giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP về điều kiện con chung?
Khóa luận chỉ rõ điểm b khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện người nhờ mang thai hộ là "Vợ chồng đang không có con chung", tức bao hàm cả trường hợp từng sinh con nhưng con đã mất. Tuy nhiên, điểm d Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP khi quy định về hồ sơ lại yêu cầu bản xác nhận "tình trạng chưa có con chung của vợ chồng", dẫn tới cách hiểu hạn chế quyền nhờ mang thai hộ của những cặp vợ chồng từng có con nhưng con đã mất.
2. Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng được xác định cụ thể gồm những ai theo quy định mà khóa luận trích dẫn?
Căn cứ khoản 7 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, người thân thích cùng hàng bao gồm: anh, chị, em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; con của cô, dì, chú, bác, cậu ruột; anh, chị, em rể hoặc dâu của người có cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với vợ hoặc chồng bên nhờ mang thai hộ.
3. Số liệu chi phí thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (IVF) tại Bệnh viện Hùng Vương được tác giả đưa ra nhằm chứng minh luận điểm gì?
Tác giả dẫn số liệu chi phí IVF tại Bệnh viện Hùng Vương gồm 2 khoản: chi phí cố định là 20 triệu đồng và tiền thuốc từ 34 đến 45 triệu đồng (chưa kể chi phí đông phôi, trữ phôi). Số liệu này nhằm chứng minh rằng nếu giải thích điều kiện "người vợ không thể mang thai ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản" theo hướng bắt buộc phải thực hiện hết mọi kỹ thuật IVF rồi thất bại mới được nhờ MTH, thì chi phí quá cao sẽ biến MTH thành giải pháp chỉ dành riêng cho người có điều kiện kinh tế khá giả, loại trừ các cặp vợ chồng nghèo.
4. Dựa vào những vụ bê bối thực tế nào mà Thái Lan đã quyết định sửa đổi luật để cấm hoàn toàn mang thai hộ thương mại vào năm 2015?
Thái Lan ban hành Đạo luật năm 2015 cấm mang thai hộ thương mại xuất phát từ hai vụ việc chấn động: (1) Vụ em bé Gammy mắc hội chứng Down sinh đôi cùng một đứa trẻ khỏe mạnh bởi người mẹ mang thai hộ Pattharamon; cặp vợ chồng người Úc nhờ mang thai chỉ mang đứa trẻ khỏe mạnh về nước và bỏ rơi bé Gammy lại Thái Lan; (2) Vụ án doanh nhân người Nhật Bản tên Mitsutoki Shigeta bị Interpol và cảnh sát Thái Lan điều tra khi đã thuê nhiều phụ nữ Thái Lan mang thai hộ để sinh ra 16 đứa con và có ý định tiếp tục kế hoạch này.
5. Pháp luật Việt Nam quy định văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải tuân thủ hình thức và điều kiện ủy quyền như thế nào?
Văn bản thỏa thuận phải được lập thành văn bản có công chứng, thể hiện sự tự nguyện của các bên theo mẫu số 05 và mẫu số 06 tại Nghị định 10/2015/NĐ-CP. Về việc ủy quyền, hai vợ chồng bên nhờ MTH hoặc bên MTH có thể ủy quyền cho nhau bằng văn bản có công chứng, nhưng pháp luật tuyệt đối nghiêm cấm việc ủy quyền cho bên thứ ba. Trường hợp thỏa thuận được lập chung giữa bên nhờ MTH, bên MTH và cơ sở y tế thì phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế đó.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của học viên Phạm Lan Anh là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn lập pháp về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu và phân tích so sánh luật học đa quốc gia, tác giả đã chỉ rõ các điểm nghẽn quy phạm thực định, tiêu biểu là sự mâu thuẫn thuật ngữ giữa luật và nghị định cũng như gánh nặng tài chính từ quy trình xác nhận y tế. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành được đề xuất vừa bảo đảm tính nhân văn của chính sách xã hội, vừa tạo hành lang pháp lý chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền làm cha mẹ và quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em.