CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN MANG THAI HỘ 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về điều kiện mang thai hộ 1. Khái niệm điều kiện mang thai hộ Ngày nay, cụm từ “mang thai hộ” đối với chúng ta không còn xa lạ. Mang thai hộ đã trở thành hiện tượng của thế giới từ những năm thập niên 70 của thế kỷ XX, đã và đang gây ra nhiều tranh cãi tại nhiều quốc gia trên thế giới bởi nó chịu sự chi phối cũng như tác động đến nhiều yếu tố như: đạo đức, văn hóa, tín ngưỡng, y học, kinh tế và cả tội phạm học.
Tuy vậy, có ý kiến cho rằng mang thai hộ xuất hiện từ rất sớm và ghi nhận lần đầu tiên trong Bộ luật Hammurabi – một trong những bộ luật cổ xưa nhất thế giới ra đời trong khoảng thời gian từ 1792 – 1750 TCN. Hay chương 16 Sách sáng thế Genenis đã ghi nhận bà Sarah với khát khao làm mẹ nhưng không thể có con cùng chồng là Ông Abraham, trước sức ép bởi phong tục lúc bấy giờ, bà Sarah đã gửi người hầu gái của mình là Hagar đến chỗ chồng mình để mang thai và sinh con cho vợ chồng 5 bà. Theo dòng chảy của thời gian cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, “mang thai hộ” được hiểu và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể trong giai đoạn đầu, mang thai hộ được hiểu là việc người đàn ông (người chồng) quan hệ trực tiếp với một người phụ nữ (không phải vợ, thường được gọi là người mẹ thay thế - surrogacy mother hay người mang thai hộ), cho đến khi người phụ nữ này thụ thai, mang thai và sinh con.
Đứa trẻ sinh ra sẽ được giao cho cặp vợ chồng để chăm sóc và nuôi dưỡng. Năm 1978, em bé đầu tiên trên thế giới ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống 6 nghiệm (IVF) đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong công tác hỗ trợ sinh sản nói chung và cách nhìn nhận về mang thai hộ nói riêng. Bởi lẽ, như đề cập ở trên, mang thai hộ trước đây được hiểu là việc người vợ vì lý do nào đó không thể mang thai và sinh con nên đã cho chồng mình quan hệ sinh lý với người phụ nữ khác để người này mang thai và sinh con. Giờ đây, với sự ra đời của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm thì mang thai hộ được nhìn nhận là hành động mang thai và sinh con thay cho người khác, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm tạo thành phôi, sau đó cấy phôi vào tử cung của một người phụ nữ khác để người này mang thai và sinh con.
5 Vũ Huy Cương (2015), Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật hôn nhân gia đình, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 6 Minh Đức, Thi Trân, https://vnexpress.net/cha-de-cua-phuong-phap-thu-tinh-trong-ong- nghiem-3418347.html, truy cập ngày 01/03/2021. 10 Dưới góc độ y khoa, căn cứ vào sự hình thành giao tử, hiện nay trên thế giới, mang thai hộ được phân thành hai dạng là: Mang thai hộ một phần - là sử dụng tinh trùng của người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ (hay còn gọi là người cha sinh học) và trứng của người mang thai hộ, việc thụ tinh có thể được tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm hoặc trong tử cung của người mang thai hộ; và mang thai hộ toàn phần - được hiểu là sử dụng phôi thai được tạo thành từ: (i) Tinh trùng của người cha và trứng của người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh; (ii) kết hợp giữa tinh trùng của người cha và trứng hiến tặng của người phụ nữ khác nếu tử cung của người vợ không có trứng, trứng không đảm bảo chất lượng để thụ thai; (iii) kết hợp giữa trứng của người vợ và tinh trùng hiến tặng nếu tinh trùng của người chồng không đạt chất lượng để thụ thai; hoặc (iv) dùng cả trứng và tinh trùng hiến tặng để cấy vào tử cung của người mang thai hộ. Nói cách khác, một trong những dấu hiệu để phân biệt giữa hai hình thức mang thai hộ nêu trên là xem xét đến yếu tố di truyền học giữa người phụ nữ mang thai hộ và đứa trẻ.
Cụ thể, trong hình thức mang thai hộ một phần, đứa trẻ sinh ra sẽ mang gen di truyền của người mang thai hộ, và ngược lại trong trường hợp mang thai hộ toàn phần thì đứa trẻ và người mang thai hộ sẽ không có quan hệ huyết thống. Cần lưu ý rằng, hiện nay ở Việt Nam chỉ cho phép tiến hành mang thai hộ toàn phần với hợp tử được tạo thành từ trứng của 7 người vợ và tinh trùng của người chồng trong cặp vợ chồng hiếm muộn. Dưới góc độ pháp lý, dựa vào mục đích, động cơ của người mang thai hộ, pháp luật Việt Nam phân chia mang thai hộ thành hai hình thức đó là mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại. Trong đó pháp luật chỉ thừa nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Với việc lần đầu tiên ghi nhận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, các nhà lập pháp khá thận trọng trong quá trình xây dựng các quy định của pháp luật nhằm tạo ra các giải pháp, cơ chế kiểm soát chặt chẽ vấn đề này. Trong đó, các chủ thể tham gia vào quá trình mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cần phải đáp ứng tất cả các điều kiện mà pháp luật đặt ra về: Đối tượng được phép thực hiện mang thai hộ, độ tuổi,… Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để kiểm soát việc mang thai hộ trong khuôn khổ nhất định. Nghiên cứu về điều kiện mang thai hộ cần bắt đầu từ việc tìm hiểu khái niệm để hình dung rõ ràng và chính xác hơn về bản chất đối tượng cần nghiên cứu. Do hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa “điều kiện 7 Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
11 8 mang thai hộ” mà chỉ quy định theo phương thức liệt kê nên khái niệm trên cần được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Ởgóc độ ngôn ngữ học, theo từ điển bách khoa Việt Nam, “điều kiện” là chỉ ra 9 những gì mà nếu không có thì đối tượng không thể tồn tại được hay điều cần thiết 10 phải có để đạt một mục đích, cơ sở của một thỏa thuận. Có thể hiểu điều kiện là một yêu cầu độc lập hoặc nhiều yêu cầu có tính đồng thời với nhau được đặt ra và chủ thể, đối tượng,… phải đáp ứng nhằm đạt được một thỏa thuận hoặc thực hiện điều gì đó. Còn từ “mang thai hộ” như đã nêu trên thì cụm từ này đã khá quen thuộc với chúng ta và có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia “mang thai hộ” (surrogacy) là việc một người phụ nữ mang thai và sinh 11 con thay cho người khác. Trong khoa học pháp lý, luận giải về khái niệm “mang thai hộ”, Luật HNGĐ năm 2014 không đưa ra khái niệm chung về mang thai hộ mà chỉ quy định hai khái niệm là “mang thai hộ vì mục đích thương mại” và “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” tương ứng với sự phân chia hình thức mang thai hộ theo mục đích của người mang thai hộ như đã đề cập ở trên. Theo đó, mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ 12 sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác. Và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được hiểu là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử 13 cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.
Đối với từ “điều kiện” xuất hiện rất phổ biến nhưng chưa có khái niệm cụ thể, nhưng nhìn chung có thể hiểu là căn cứ, cơ sở hoặc yêu cầu để một vấn đề pháp lý có thể xảy ra. Mặc dù khái niệm “điều kiện mang thai hộ” ít được quan tâm luận giải, nhưng đâu đó vẫn có thể tìm thấy một số quan điểm về vấn đề này hoặc chí ít cũng có liên 8 Ví dụ Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể về các điều kiện mang thai hộ. 9 Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam 1, Cục xuất bản Bộ Văn hóa – Thông tin, tr. 10 Nguyễn Lân (2004), Từ điển và từ ngữ Việt Nam, NXB.
Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11 Wikipedia, “Mang thai hô”, https://vi.org/wiki/Mang_thai_h%E1%BB%99, truy cập ngày 21/03/2021. 12 Khoản 23 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. 13 Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
12 quan đến khái niệm này, cụ thể: “Việc đặt ra điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ là cơ sở pháp lý để kiểm soát việc mang thai hộ trong khuôn khổ nhất 14 định” hay “Luật HNGĐ năm 2014 và Nghị định của Chính phủ số 10/2015/NĐ- CP ngày 28/01/2015 quy định về sinh con bằng kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (sau đây gọi tắt là Nghị định số 10/2015/NĐ-CP) đã quy định chặt chẽ các điều kiện cho việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; buộc các bên tham gia vào quá trình mang thai hộ phải tuân thủ. Đây là cơ chế kiểm soát cho việc mang thai hộ không bị chệch hướng và là cơ sở 15 pháp lý để việc mang thai hộ có hiệu lực”. Nhìn chung, cả hai quan điểm trên đều tiếp cận qua khía cạnh mục đích, ý nghĩa và tính bắt buộc của điều kiện mang thai hộ đối với các chủ thể tham gia vào quan hệ mang thai hộ nói riêng và các vấn đề khác phát sinh liên quan đến mang thai hộ nói chung, đó là tạo ra hành lang pháp lý để việc mang thai hộ được đảm bảo thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật. Tuy nhiên, để sử dụng các quan điểm này như một định nghĩa về điều kiện mang thai hộ thì chưa thực sự đầy đủ và thuyết phục.