Điều Kiện Hình Thành Doanh Nghiệp Công Nghệ - Vệ Tinh Trong Các Viện Nghiên Cứu

Luận văn thạc sĩ phân tích điều kiện hình thành doanh nghiệp công nghệ vệ tinh tại viện nghiên cứu, trường hợp viện hóa học các hợp chất thiên nhiên.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

89
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Doanh Nghiệp Công Nghệ Vệ Tinh và Viện Hóa Học

Bài viết này tập trung vào việc phân tích các điều kiện hình thành doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh tại Viện Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên (Viện HCTN). Mô hình này được xem là giải pháp hiệu quả để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, tạo ra giá trị kinh tế và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh (spin-off) hoạt động gắn liền với viện nghiên cứu, tận dụng cơ sở vật chất, đội ngũ chuyên gia và kết quả nghiên cứu sẵn có. Việc thành lập và phát triển các doanh nghiệp này góp phần gắn kết hoạt động R&D với thực tiễn sản xuất, mang lại lợi ích cho cả viện nghiên cứu và nền kinh tế. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích thành lập và phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ, trong đó có mô hình doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh.

1.1. Khái Niệm và Vai Trò của Doanh Nghiệp Vệ Tinh Spin off

Doanh nghiệp vệ tinh (spin-off) là một loại hình doanh nghiệp được thành lập dựa trên kết quả nghiên cứu và phát triển (R&D) từ các viện nghiên cứu, trường đại học hoặc tổ chức khoa học công nghệ. Vai trò quan trọng của chúng là thương mại hóa các kết quả nghiên cứu này, biến chúng thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị trên thị trường. Chúng tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ngoài ra, doanh nghiệp vệ tinh còn góp phần tạo việc làm, thu hút đầu tư và nâng cao trình độ khoa học công nghệ của đất nước.

1.2. Giới Thiệu Viện Hóa Học Các Hợp Chất Thiên Nhiên

Viện Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên (Viện HCTN) là một viện nghiên cứu hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực hóa học các hợp chất tự nhiên. Viện có đội ngũ các nhà khoa học giàu kinh nghiệm, cơ sở vật chất hiện đại và nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao. Viện HCTN có tiềm năng lớn để thành lập các doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh, góp phần thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của viện và thúc đẩy phát triển kinh tế. Theo tài liệu gốc, Viện HCTN có 46 biên chế và 112 cán bộ viên chức, người lao động, trong đó có 17 tiến sĩ và 29 thạc sĩ.

II. Thách Thức Trong Thành Lập Doanh Nghiệp Khoa Học tại Viện

Việc thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ, đặc biệt là mô hình doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh tại các viện nghiên cứu như Viện HCTN, đối mặt với nhiều thách thức. Các thách thức này bao gồm: rào cản về vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường và các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Hơn nữa, môi trường pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp công nghệ vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho việc triển khai và phát triển mô hình này. Sự hợp tác giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần được thúc đẩy để vượt qua những thách thức này.

2.1. Rào Cản Về Vốn và Kinh Nghiệm Quản Lý

Một trong những khó khăn lớn nhất đối với việc thành lập doanh nghiệp là vấn đề vốn. Các viện nghiên cứu thường thiếu nguồn vốn để đầu tư vào các hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Bên cạnh đó, các nhà khoa học thường thiếu kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp, marketing và bán hàng. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự hỗ trợ từ các quỹ đầu tư, chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và sự hợp tác với các chuyên gia tư vấn.

2.2. Vấn Đề Sở Hữu Trí Tuệ và Tiếp Cận Thị Trường

Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là rất quan trọng để đảm bảo lợi ích của viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có thể phức tạp và tốn kém. Khó khăn trong việc tiếp cận thị trường cũng là một thách thức lớn. Doanh nghiệp cần có chiến lược marketing hiệu quả để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ đến khách hàng mục tiêu. Cần có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, tham gia hội chợ triển lãm và xây dựng thương hiệu.

III. Cách Thành Lập Doanh Nghiệp Công Nghệ Theo Nghị Định 80

Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ quy định rõ các điều kiện thành lập doanh nghiệp, thủ tục đăng ký và các chính sách ưu đãi đối với loại hình doanh nghiệp này. Để thành lập doanh nghiệp công nghệ theo Nghị định 80, cần đáp ứng các điều kiện về: có kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh; có đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ chuyên môn phù hợp; có vốn điều lệ đáp ứng yêu cầu; và có trụ sở, cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp. Thủ tục thành lập doanh nghiệp bao gồm: nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh; thẩm định hồ sơ; và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

3.1. Điều Kiện Thành Lập Doanh Nghiệp Khoa Học và Công Nghệ

Theo Nghị định 80, để được công nhận là doanh nghiệp khoa học công nghệ, doanh nghiệp cần đáp ứng các điều kiện sau: Có hoạt động nghiên cứu, triển khai và ứng dụng khoa học công nghệ; có sản phẩm, dịch vụ khoa học công nghệ; có đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ; và có cơ sở vật chất, kỹ thuật phù hợp với hoạt động khoa học công nghệ. Các điều kiện này nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp thực sự hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ và có khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị.

3.2. Thủ Tục Đăng Ký Kinh Doanh Doanh Nghiệp Công Nghệ Chi Tiết

Hồ sơ đăng ký kinh doanh doanh nghiệp khoa học công nghệ bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh; Điều lệ công ty; Danh sách thành viên hoặc cổ đông; Giấy chứng nhận đầu tư (nếu có); và các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật. Hồ sơ được nộp tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ thẩm định hồ sơ và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu hồ sơ hợp lệ.

3.3. Ưu Đãi Đặc Biệt Cho Doanh Nghiệp KHCN Theo Pháp Luật

Doanh nghiệp khoa học công nghệ được hưởng nhiều ưu đãi theo quy định của pháp luật, bao gồm: Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; Ưu đãi về tiền thuê đất, thuê mặt nước; Ưu đãi về tín dụng; Ưu đãi về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học công nghệ; và các ưu đãi khác theo quy định của pháp luật. Các ưu đãi này nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ và phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ.

IV. Hướng Dẫn Chi Tiết Góp Vốn Bằng Công Nghệ Vào Doanh Nghiệp

Một trong những hình thức góp vốn phổ biến vào doanh nghiệp khoa học công nghệ là góp vốn bằng công nghệ. Để góp vốn bằng công nghệ, cần xác định giá trị của công nghệ được góp vốn và thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan. Giá trị của công nghệ được xác định dựa trên các yếu tố như: tính mới, tính sáng tạo, khả năng ứng dụng và hiệu quả kinh tế. Các thủ tục pháp lý bao gồm: lập hợp đồng góp vốn; thực hiện thủ tục chuyển giao quyền sở hữu công nghệ; và đăng ký thay đổi vốn điều lệ của doanh nghiệp.

4.1. Quy Trình Xác Định Giá Trị Tài Sản Trí Tuệ Khi Góp Vốn

Việc xác định giá trị tài sản trí tuệ khi góp vốn là một bước quan trọng để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan. Có nhiều phương pháp định giá tài sản trí tuệ, bao gồm: phương pháp chi phí, phương pháp thị trường và phương pháp thu nhập. Phương pháp chi phí dựa trên chi phí đã bỏ ra để tạo ra tài sản trí tuệ. Phương pháp thị trường dựa trên giá của các tài sản trí tuệ tương tự trên thị trường. Phương pháp thu nhập dựa trên thu nhập dự kiến sẽ thu được từ việc sử dụng tài sản trí tuệ.

4.2. Các Văn Bản Pháp Lý Cần Thiết Cho Góp Vốn Công Nghệ

Các văn bản pháp lý cần thiết cho việc góp vốn bằng công nghệ bao gồm: Hợp đồng góp vốn, Biên bản định giá công nghệ, Biên bản giao nhận tài sản (công nghệ), Quyết định của Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông về việc chấp nhận góp vốn bằng công nghệ, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công nghệ (nếu có). Hợp đồng góp vốn cần quy định rõ các điều khoản về: Giá trị công nghệ, Phương thức thanh toán, Quyền và nghĩa vụ của các bên, Trách nhiệm bảo mật thông tin, và các điều khoản khác theo thỏa thuận.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Khoa Học Tạo Dựng Khởi Nghiệp Hóa Học

Viện HCTN có nhiều tiềm năng để phát triển các dự án khởi nghiệp trong lĩnh vực hóa học, đặc biệt là trong lĩnh vực các hợp chất thiên nhiên. Các dự án khởi nghiệp có thể tập trung vào: sản xuất các sản phẩm thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, dược phẩm từ các hợp chất thiên nhiên; phát triển các công nghệ chiết xuất, phân lập và tổng hợp các hợp chất thiên nhiên; cung cấp các dịch vụ tư vấn, phân tích và kiểm nghiệm các hợp chất thiên nhiên. Việc khởi nghiệp trong lĩnh vực hóa học đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức khoa học và kỹ năng kinh doanh.

5.1. Tiềm Năng Ứng Dụng Hợp Chất Thiên Nhiên Trong Công Nghiệp

Các hợp chất thiên nhiên có nhiều ứng dụng tiềm năng trong các ngành công nghiệp khác nhau, bao gồm: công nghiệp dược phẩm, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp mỹ phẩm, công nghiệp nông nghiệp và công nghiệp môi trường. Trong công nghiệp dược phẩm, các hợp chất thiên nhiên được sử dụng để điều chế các loại thuốc chữa bệnh. Trong công nghiệp thực phẩm, các hợp chất thiên nhiên được sử dụng làm chất bảo quản, chất tạo màu và chất tạo hương. Trong công nghiệp mỹ phẩm, các hợp chất thiên nhiên được sử dụng làm thành phần hoạt tính trong các sản phẩm chăm sóc da và tóc.

5.2. Mô Hình Doanh Nghiệp Đổi Mới Sáng Tạo Từ Viện Nghiên Cứu

Mô hình doanh nghiệp đổi mới sáng tạo từ viện nghiên cứu là một mô hình hiệu quả để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học. Mô hình này bao gồm các bước: Xác định các kết quả nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa, Thành lập doanh nghiệp, Phát triển sản phẩm, Tiếp cận thị trường, và Phát triển bền vững. Doanh nghiệp cần có đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ chuyên môn cao, có khả năng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ mới. Theo tài liệu gốc, Viện HCTN có nhiều đề tài nghiên cứu và sở hữu công nghiệp đã đăng ký thành công.

VI. Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Vệ Tinh Viện HCTN

Để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh tại Viện HCTN, cần có các giải pháp đồng bộ từ phía viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà nước. Viện nghiên cứu cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, cơ sở vật chất và nhân lực. Doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm thị trường, xây dựng thương hiệu và phát triển các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao. Nhà nước cần hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và có các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

6.1. Hoàn Thiện Hành Lang Pháp Lý Doanh Nghiệp Khoa Học Công Nghệ

Việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho doanh nghiệp khoa học công nghệ là rất quan trọng để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến: Thành lập doanh nghiệp, Quản lý vốn, Sở hữu trí tuệ, Chuyển giao công nghệ, và các hoạt động khoa học công nghệ khác. Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch và dễ thực hiện.

6.2. Tăng Cường Hợp Tác Viện Nghiên Cứu Doanh Nghiệp Để Phát Triển

Hợp tác giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp là yếu tố then chốt để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ. Cần có các cơ chế khuyến khích viện nghiên cứu và doanh nghiệp hợp tác trong các hoạt động: Nghiên cứu, phát triển, Ứng dụng công nghệ, Đào tạo nhân lực, và Đầu tư. Theo tài liệu gốc, cần kết hợp thu hút lao động chất lượng cao phục vụ cho doanh nghiệp và cho viện, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và viện tăng thêm cơ hội tìm kiếm nhiều đề tài, dự án gắn với nhu cầu thị trường.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ điều kiện hình thành doanh nghiệp công nghệ vệ tinh trong các viện nghiên cứu và triển khai nghiên cứu trường hợp viện hóa học các hợp chất thiên nhiên

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Tên đề tài: Điều kiện hình thành Doanh nghiệp Công nghệ - Vệ tinh trong các viện nghiên cứu và triển khai (Nghiên cứu trường hợp Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên). Tính cấp thiết của đề tài Xuất phát từ thực tế các thành tựu KH&CN cần đưa vào ứng dụng nhưng theo các phương thức truyền thống như chuyển giao, mua bán công nghệ khó, thậm trí không thể thực hiện được do công nghệ, sản phẩm còn mới, xã hội và nhà đầu tư chưa có đủ điều kiện để đầu tư, ngoài ra công nghệ còn luôn cần hoàn thiện như một quá trình.

Công nghệ thuộc lĩnh vực kinh tế tri thức hàm chứa chất xám của người sáng tạo ra nó. Đây là một trong những điều kiện để hình thành mô hình doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh (spin-off) hay còn gọi là doanh nghiệp KH&CN. Doanh nghiệp dạng này hoạt động gắn với đơn vị chủ quản là các viện R&D. Doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh là hình thức để nhà khoa học tự chủ, tự chịu trách nhiệm đến cùng với kết quả của mình trong nghiên cứu khoa học cũng như phát triển công nghệ trong khuôn khổ doanh nghiệp.

Cơ sở pháp lý của loại hình doanh nghiệp này là các văn bản pháp quy như Nghị định 115/2005/NĐ-CP (NĐ 115) quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KH&CN công lập, Nghị định 80/2007/NĐ-CP (NĐ 80) về doanh nghiệp KH&CN, Nghị định 96/2010/NĐ-CP sửa đổi một số điều của NĐ 115 và NĐ 80, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13. Việc hình thành, hoạt động các doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh trong các viện R&D suy cho cùng là phục vụ hoạt động R&D của các viện R&D. Với các ưu đãi về thuế, vay vốn, thuê đất tạo ra lợi thế cạnh tranh cho công nghệ mới, doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh có thể mang lại thu nhập đáng kể từ các kết quả nghiên cứu, từ đó cải thiện đời sống vật chất cho đội ngũ trí thức của đơn vị. Trong đó quan trọng nhất là thông qua hoạt động của doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh trực thuộc 7 (LUAN.nhien) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nhien) viện R&D, viện có cơ hội kết hợp thu hút lao động chất lượng cao phục vụ cho doanh nghiệp, cho viện mà không cần bổ sung đội ngũ cán bộ cơ hữu, từ đó uy tín của doanh nghiệp ngày một nâng cao đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp và viện tăng thêm cơ hội tìm kiếm nhiều đề tài, dự án gắn với nhu cầu thị trường, tiến tới đưa nhiều sản phẩm vào phục vụ cuộc sống và cơ hội thu hút vốn đầu tư từ các cá nhân, tổ chức khác.

Quy hoạch tổng thể phát triển Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đến năm 2020 và định hướng đến 2030, theo quyết định số 2133/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 01/12/2011, đã chỉ rõ mục tiêu đến năm 2020 phát triển 15 doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp KH&CN) và đến năm 2030 là 20 doanh nghiệp spin-off. Nghiên cứu khoa học gắn liền với đào tạo và sản xuất tạo nên thế „chân vạc„ trong nghiên cứu khoa học. Hoạt động nghiên cứu khoa học gắn liền với đào tạo sẽ làm cho hoạt động nghiên cứu khoa học ngày càng phát triển, những kiến thức mới nhất được cập nhật vào ngay trong quá trình đào tạo, thông qua hoạt động đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Gắn liền với sản xuất giúp các kết quả nghiên cứu đi vào cuộc sống, định hướng nghiên cứu theo nhu cầu của thị trường và quan trọng nhất mang lại lợi ích kinh tế từ hoạt động sản xuất cho các nhà khoa học.

Hoạt động đào tạo gắn liền với nghiên cứu khoa học và sản xuất sẽ đào tạo được đội ngũ cán bộ có chất lượng cao hơn, mang lại nguồn nhân lực cho nghiên cứu khoa học và sản xuất. Cũng như vậy, hoạt động sản xuất gắn liền với nghiên cứu khoa học sẽ ứng dụng tốt hơn những kết quả nghiên cứu và cuộc sống. Thông qua sản xuất các nhà khoa học được hỗ trợ, đảm bảo về kinh tế. Ngoài ra hoạt động sản xuất còn là nơi thực nghiệm của hoạt động đào tạo, người học được tham gia vào quá trình sản xuất ngay cả khi trong đang trong quá trình học tập.

Doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh là loại hình doanh nghiệp có thể kết nối được quá trình nghiên cứu với sản xuất hàng hoá và hoạt động đào tạo. Doanh nghiệp công nghệ vệ tinh là giải pháp tối ưu để các nghiên cứu theo được nhu 8 (LUAN.nhien) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nhien) cầu thị trường và với cấu trúc hợp lý sẽ có đủ khả năng để tiếp tục thực hiện nâng cấp, đổi mới công nghệ cũng như cung cấp dịch vụ liên quan. Ngoài ra doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh còn tạo điều kiện nâng cao hiệu suất sử dụng trang thiết bị của Viện R&D và các đơn vị nghiên cứu khoa học liên quan, thu hút lao động chất lượng cao phục vụ hoạt động R&D của Doanh nghiệp, tăng nguồn thu và dự trữ công nghệ - cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực của doanh nghiệp cũng như viện R&D để tiếp tục thực hiện các dự án, đề tài liên quan khác. Là một Viện R&D có dự trữ công nghệ lớn, tiềm lực vật chất mạnh, đội ngũ lãnh đạo trẻ và năng động, việc hình thành Doanh nghiệp Công nghệ - Vệ tinh với trường hợp Viện HCTN tạo điều kiện cho gắn kết và phát huy các sức mạnh của Viện, đưa Viện HCTN lên một tầm cao mới.

Việc nghiên cứu điều kiện hình thành Doanh nghiệp Công nghệ - Vệ tinh trong các viện R&D với trường hợp Viện HCTN, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các Doanh nghiệp Công nghệ - Vệ tinh sớm được các viện R&D tham khảo, áp dụng và sớm nhân rộng để thực hiện được mục tiêu đã đề ra trong quy hoạch tổng thể phát triển của Bộ KH&CN nói chung và VHL nói riêng đến năm 2020 và định hướng đến 2030. Ý nghĩa lý thuyết của nghiên cứu - Đóng góp nghiên cứu mô hình tổ chức gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất. - Đóng góp nghiên cứu thay đổi cấu trúc các tổ chức R&D dẫn tới thích ứng với kinh tế thị trường. Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu Doanh nghiệp công nghệ - vệ tinh làm cầu nối cho các Viện R&D hoạt động tốt hơn, gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn, sản phầm khoa học thương mại hoá, tiến tới tự trị.

Tổng quan tình hình nghiên cứu Mô hình Doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp vệ tinh (spin-off) đã được bàn đến trong nhiều tài liệu trong nước và nước ngoài.nhien) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nhien) Trong số các nghiên cứu ở nước ngoài phải kể đến nghiên cứu do Nhóm tác giả Sally Davenport, Adrian Carr và Dave Bibbi (2002) [35] đã chỉ ra việc hình thành các doanh nghiệp spin-off từ các tổ chức nghiên cứu là một trong những phương thức thương mại hoá tri thức và công nghệ hiệu quả nhất. Trong khi đó nhóm các nhà khoa học Mỹ là Steffensen; Roger và Speakman (1996- 1999) [37] đã là rõ hơn vai trò các nhóm tác nhân chính tham gia vào quá trình hình thành doanh nghiệp spin-off. Các nhà nghiên cứu chính sách như Ndonzuan, Pirnary và Surlemont (2002) đã phân tích quá trình hình thành doanh nghiệp spin-off dưới góc độ chuyển giao kết quả nghiên cứu từ tổ chức nghiên cứu và triển khai vào thị trường và coi đây là hình thức chuyển giao mang lại hiệu quả nhất đồng thời cũng nêu ra các vấn đề như vốn đầu tư mạo hiểm, vai trò các khu công nghệ cao trong giai đoạn ban đầu và các giai đoạn hình thành doanh nghiệp spin-off. Về tác động của doanh nghiệp spin-off đối với nền kinh tế địa phương, OECD trong đề tài nghiên cứu năm 2003 đã chỉ ra: Các doanh nghiệp spin-off không chỉ thuần tuý được thể hiện ở kết quả kinh tế thông qua tài sản từ kết quả nghiên cứu mà còn thể hiện thông qua việc liên kết khu vực R&D với khu vực sản xuất.

OECD cũng đã đưa ra các khuyến nghị về chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp spin-off và coi đây là phương thức khuyến khích phát triển vùng và mạng lưới tổ chức R&D và doanh nghiệp với các địa phương. Trong nghiên cứu áp dụng mô hình doanh nghiệp spin-off ở Ý, Barbara Bigliardi, Francesco Galati, and Chiara Verbano (2013) [34] đã xác định 18 yếu tố liên quan đến sự thành công của doanh nghiệp spin-off bắng phương pháp Delphi, theo đó một số yếu tố quyết định như: nắm giữ kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa, sự tham gia của tổ chức mẹ (Trường đại học / Viện nghiên cứu) và động lực của người sáng lập. Ở Việt Nam, tác giả Bạch Tân Sinh (2005) [28] và cộng sự trong Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN và sự chuyển đổi một số tổ chức R&D ở Việt Nam theo cơ chế doanh nghiệp đã phân tích rõ bản chất loại hình doanh nghiệp KH&CN, xác định các điều kiện hình thành doanh 10 (LUAN.nhien) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nhien) nghiệp KH&CN đồng thời nghiên cứu mô hình chuyển đổi tổ chức nghiên cứu và phát triển sang cơ chế doanh nghiệp. Tác giả Nguyễn Quân (2006) [27] đã coi doanh nghiệp KH&CN như một lực lượng sản xuất mới.

Tác giả đã nêu ra khái niệm doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp spin-off và lý giải vì sao phải lập và phát triển doanh nghiệp KH&CN đồng thời nêu ra các vấn đề cần quan tâm khi chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập thành doanh nghiệp KH&CN. Nhóm tác giả Mai Hà, Hoàng Văn Tuyên, Đào Thanh Trường (2015) [13;25] đã đưa ra một số khái niệm và kinh nghiệm của thế giới về mô hình doanh nghiệp KH&CN và các hình thức đầu tư tài chính cho loại hình doanh nghiệp này. Trong khi đó tác giả Nguyễn Thị Minh Nga (2006) [18] đã có nghiên cứu về các đặc trưng của doanh nghiệp KH&CN, vai trò và động cơ của doanh nghiệp KH&CN. Ngoài ra nghiên cứu đã đề ra các thủ tục thành lập doanh nghiệp KH&CN, hình thức hoạt động, cơ cấu tổ chức, liên kết nghiên cứu, các thuận lợi khó khăn của doanh nghiệp KH&CN đồng thời đã nêu được sự cần thiết và phạm vi chính sách hỗ trợ, các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp KH&CN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ