CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE DIEU KIEN CÓ HIEU LUC CUA GIAO DICH DAN SU 1. Khái niệm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự GDDS là hành vi pháp lý thể hiện ý chí của các chủ thé trong quan hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đôi hoặc chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự. GDDS là một căn cứ quan trọng làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự, tuy nhiên không phải bất cứ giao dịch dân sự nào được xác lập thì cũng hợp pháp, chỉ những giao dịch đáp ứng các điều kiện nhất định mới được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng sự tự do thỏa thuận của các bên trong GDDS thì pháp luật cũng đặt ra các yêu cầu tối thiểu bắt buộc chủ thê phải tuân theo, có thé tạm hiểu đó là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân su’.
Vay điều kiện có hiệu lực của giao dich dân sự là gì ? Tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ, cầu tạo thuật ngữ “điều kiện có hiệu lực” gồm “điều kiện” và “hiệu lực”. Trước hết, xét về cụm từ “điều kiện”, từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm “điêu kiện là cdi phải có dé cho một cdi khác có thể có hoặc có thé không xảy ra” ”. Như vậy, điều kiện được hiểu là các yêu cầu, đòi hỏi cần được dap ứng trước khi thực hiện một sự kiện, sự việc nào đó. Về định nghĩa hiệu lực, hiệu lực được hiểu theo nghĩa chung nhất là “tac dung thực tế, đúng yêu cẩu ””.
Như vậy, có thể hiểu, hiệu lực là giá trị thi thành hoặc có công dụng thực tế. Thực tiễn, hiệu lực của giao dịch xác định: giao dịch đó có giá trị ràng buộc với ai (chủ thé tham gia giao dịch), giao dịch có giá trị thực hiện trong khoảng thời gian bao lâu, tức là hiệu lực về thời gian (khoảng thời gian mà hiệu lực có tác dụng) và phạm vi áp dụng của giao dịch, tức là quy định nội dung công việc (làm gì, ở đâu.), quyền và nghĩa vụ của chủ thé liên quan.Kết hợp về mặt ngữ nghĩa, “điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là các yêu cau mà giao dịch dân sự cân đáp ứng trước để giao dịch đó có giá trị thi hành trên thực tế”. Tiến cận dudi góc độ Luật học, từ điển giải thích Luật học nêu rõ “Diéu kiện có hiệu lực của giao dich dan sự là các yếu to cần và đủ mà BLDS quy định giao dịch ' Hoàng Khánh Phuong (2012), Giá tri của công chứng đối với hiệu lực của giao dich dân sự, luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, tr. ? Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phô thông, Nxb Da Nang, Trung tâm từ điển Hà Nội- Da Nẵng, tr.
*Từ điển Tiếng Việt, định nghia “Hiệu lực”, đường link truy cập hữp:/fratu.vn/dic/vn_vwHi%E19%BB%87u_]%E1%BB%BIc truy cập ngày 10/02/2023. 9 dan sự sẽ có hiệu lực pháp luật ”“. Như vậy, có thé thay điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là những yêu cầu pháp lý mà BLDS đặt ra dé giao dich dan su co hiéu luc, các yêu cầu này có thé khác nhau phụ thuộc vào loại giao dich. Hay “Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là những tiêu chí pháp lý bắt buộc các bên chủ thể phải tuân thủ khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự ””.
Các tiêu chí này là các yếu tố pháp luật quy định có thể tác động đến hiệu lực, sự tồn tại của giao dịch dân sự. Tác giả đồng tình với hai quan điểm trên, bởi lẽ để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì giao dịch đó phải thỏa mãn các điều kiện (điều cần phải đáp ứng) mà pháp luật đặt ra buộc các chủ thé tham gia giao dich dân sự phải tuân theo. Quan điểm khác cho rằng: “Diéu kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là yêu câu pháp luật về việc giao dịch đó phải có sự xác lập bằng ý chí tự nguyện của người có năng lực pháp luật dan sự và năng lực hành vi dân sự với nội dung, mục dich không vi phạm diéu cam của pháp luật, không trai dao đức xã hội và sự tuân thu về hình thức trong trường hợp luật quy định”. Có thé thay, khái niệm trên diễn giải một cách khái quát quy định về điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực được quy định tại BLDS năm 2015.
Các điều kiện này là các điều kiện về mặt chu thé, về ý chí tự nguyện, về mục đích và nội dung và về hình thức của giao dịch dân sự. Đây chính là các tiêu chí mà pháp luật đặt ra buộc các bên tham gia phải tuân theo dé giao dịch phat sinh hiệu lực. Đồng tình với quan điểm “điểu kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là các yêu câu toi thiểu buộc chủ thể phải tuân theo”, tác giả Lê Thu Hương đưa ra định nghĩa về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng như sau : “Diéu kiện có hiệu lực của hợp đồng là quy định của luật nhằm giới hạn sự tự do thỏa thuận bằng việc đưa ra các yêu cau tối thiểu buộc các bên giao kết hợp dong phải tuân thủ ”“ Như vậy có thé thấy, quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là các yêu cầu pháp lý tối thiểu mà luật đặt ra buộc các chủ thể tham gia giao dịch phải tuân thủ, các quy định này nhằm đảm bảo việc tự do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng hoặc sự thể hiện ý chí trong các giao dịch dân sự được xác lập một cách hợp pháp, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thê khác. * Trường đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điền giải thích luật học, Nxb Công an nhân dân, tr.
> Trường đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam Tập 1, Nxb Tư pháp, tr. ° Hoàng Thị Loan (2019), Diéw kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam, luận án tiễn sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, tr. 7 Lê Thị Hương (2019), Điều kiện có hiệu lực của hợp dong theo Bộ luật Dân sự năm 2015 — Thực tiễn áp dung tại tỉnh Bắc Kạn. luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Dai học Luật Hà Nội, tr.
10 và nguyên tắc, các bên tự do xác lập và tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng, đây là nguyên tắc hết sức quan trọng của luật hợp đồng mà nếu không có nó thỏa thuận sẽ trở nên vô nghĩa vì không một nghĩa vụ nào được tạo thànhŸ. Nguyên tắc tự do ý chí là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật dân sự Việt Nam, tuy nhiên sự tự do này không phải là sự tự do hoàn toàn, tự do vô giới hạn mà sự tự do này là sự tự do bị hạn chế, được Nhà nước kiêm soát băng pháp luật, nó được đặt trong mối quan hệ bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thê, lợi ích chung của xã hội”. Vì vậy, khi tham gia vào giao dịch dân sự nói chung, các bên tự do xác lập và tự do quyết định nội dung giao dịch, tuy nhiên, sự tự do này phải phù hợp với ý chí của Nhà nước, nó được thê hiện thông qua quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Cho đến nay chưa có văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm chính thức về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Tuy nhiên, khi xem xét các quan điểm pháp lý được đưa ra, tác giả nhận thấy rằng: các luận giả đều có chung cách hiểu và cho răng “Diéu kiện có hiệu lực của giao dich là các yêu câu pháp lý mà giao dịch dân sự phải đáp ứng để giao dịch phát sinh hiệu lực ”. Các yêu cầu này sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại giao dịch được xác lập và mục đích đặt ra quy định này nhằm đảm bảo sự tự do của bên trong khuôn khổ pháp luật, bảo vệ quyên, lợi ích của các chủ thé trong xã hội. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra quan điểm của mình về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau: “Diéu kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là những quy định mà luật đặt ra buộc các bên tham gia giao dịch phải tuân theo để đảm bảo giao dich phát sinh hiệu lực, các yêu cau này đặt ra nhằm dam bảo sự tự do thể hiện ý chí của các bên trong giao dịch phi hợp với lợi ích Nhà nước, lợi ích chung của xã hội”. Đặc điểm của điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Thứ nhát, điều kiện có hiệu lực của giao dich dân sự là các tiêu chi, yêu cẩu để giao dịch dân sự phái sinh hiệu lực Những yêu cầu này là căn cứ xác định tính hợp pháp của giao dịch.
Xét về nội dung, các yêu câu này lân lượt gôm yêu câu về điêu kiện năng lực chủ thê, yêu câu về * Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện hành”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 115 tháng 02 năm 2008. ? Về thuyết tự do ý chí, tự do ý chí là cơ sở lý luận quan trọng cho sự ra đời của pháp luật hợp đồng hiện đại qua việc đề cao quyền tự do ý chi, tự do hợp đồng của các bên. Tuy nhiên, tự do này không thé mang tính tuyệt đối mà cần kiểm soát bang phap luat, dat trong mỗi quan hệ với trật tự công, lợi ích chung của toàn xã hội. Xem thêm tại: Nguyễn Thi Hường (2011), Tự do giao kết hợp dong- Những van đề lý luận và thực tiên, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
11 ý chí chủ thể (sự tự nguyện), yêu cầu về mục đích và nội dung của giao dịch và yêu cầu về hình thức của giao dịch dân sự. Các yêu cầu này có thé khác nhau tùy thuộc vào từng loại giao dịch dân sự. Ví dụ như giao dịch có đối tượng là quyền sử dụng đất, ngoài việc tuân thủ điều kiện về năng lực chủ thể, sự tự nguyện, tính hợp pháp về nội dung và mục đích thì chủ thể còn phải tuân thủ điều kiện về mặt hình thức.