mở đầu cuộc cách mạng không dây trong nhà và trong doanh nghiệp.11g được phê duyệt, sử dụng băng tần 24GHz lên đến 54Mbps. Năm 2004: Wi-Fi và điện thoại di động đầu tiên được chứng nhận PDAs được tung ra thị trường, bao gồm HP, iPAQ PocketPC, Nokia 9500 và Motorola MPx. Năm 2005: Từ “Wi-Fi” được thêm vào từ điển tiếng anh Merriam-Webster. Các thiết bị chơi game và máy ảnh số dùng Wi-Fi đầu tiên được ra mắt.
Năm 2006: D-link ra mắt bộ adapter và router không dây 802.11n được phê duyệt, tối ưu hóa ở 5GHz, mặc dù công nghệ đa-kênh cho phép nó hoạt động tốt ở 2,4GHz. Nhiều router ngày nay cho phép tải băng tần kép, tương thích trên băng tần 2,4GHz và 5GHz, tăng tốc độ lên đến 900Mbpz.0 được công bố, với tốc độ ban đầu lên đến 1750Mbps (1,71Gbps) và khả năng đạt đến 6,93Gbps trong tương lai. Năm 2013: D-link ra mắt một dòng đầy đủ các bộ adapter và router không dây chuẩn 802. Năm 2014 đến nay: Ngày phê chuẩn dự kiến chuẩn 802.11ac được biết là “11AC” trên băng tần 5GHz.2 Khái niệm Wi-Fi Wi-Fi (Wireless Fidelity) là tên các nhà sản xuất gọi chuẩn công nghệ IEEE 802.11 dùng để thiết lập các hệ thống mạng không dây.11 bao gồm nhiều chuẩn, trong đó phổ biến nhất là 802.11b, thường được sử dụng trong triển khai các hotspot, do mang tính chất toàn cầu và có thể ứng dụng rộng rãi mà không đòi hỏi nhiều về cơ sở hạ tầng.3 Ưu điểm của công nghệ Wi-Fi Trong không gian văn phòng vốn bề bộn, bạn sẽ cảm thấy thoải mái hơn nếu bớt đi được hệ thống dây nối loằng ngoằng vướng víu.
Xu hướng mới, người ta muốn BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP 5 do an CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT thay đổi để mọi thứ đều là không dây. Các thiết bị không dây sử dụng sóng radio tần số cao để truyền dữ liệu. Phổ biến nhất hiện nay là Wi-Fi và Bluetooth.
Wi-Fi có tốc độ kết nối tương đối cao, 11Mb/s đối với chuẩn 802.11b, 54Mb/s đối với chuẩn 802.0 khả năng đạt đến 6,93Gbps trong tương lai và còn cao hơn nữa. Các thiết bị hỗ trợ đều được nhà sản tích hợp sẵn các adapter Wi-Fi. Ngoài ra, các nhà sản xuất còn sản xuất các cặp thu phát không dây theo chuẩn riêng tính hợp vào các sản phẩm không dây. Chính vì như vậy việc duy trì kết nối mạng Internet (mạng không dây) mọi lúc mỗi nơi khi được phủ sóng Wi-Fi.4 Khuyết điểm của công nghệ Wi-Fi Khiếm khuyết trong chuẩn 802.11 – giao thức mạng không dây phổ biến nhất hiện nay do Tổ chức kỹ sư điện và điện tử quốc tế IEEE thiết lập – là cho phép một thiết bị cá nhân gây tắc nghẽn khả năng liên kết của các thiết bị khác trong bán kính 1 km thông qua một tín hiệu cường độ thấp.
Khiếm khuyết ảnh hưởng đến thủ tục đánh giá kênh sạch (CCA) – có vai trò giảm thiểu khả năng 2 thiết bị cùng phát sóng trên một băng tần. Những cuộc tấn công thông qua lỗi này khiến tất cả thiết bị trong vùng sóng phải chờ đợi cho đến khi vụ tấn công chấm dứt mới có thể truyền tín hiệu. Đối tượng bị lỗi là những thiết bị hỗ trợ các chuẩn không dây 801. Những thiết bị dùng chuẩn 802.11g tốc độ cao (trên 20MB/giây) thì không bị tác động.5 Các tầng giao thức Wi-Fi Giao thức là những quy tắc, luật lệ mà các quá trình truyền nhận thông tin trên mạng phải tuân theo một cách triệt để.
Các tầng giao thức này được chia thành nhiều tầng (layer), mỗi tầng giao thức giải quyết một nhiệm vụ cụ thể trong quá trình truyền, nhận thông tin. Mạng dùng giao thức TCP/IP, dữ liệu được chia thành những gói nhỏ là những gói tin (packet). Khi ta gửi đi một thông điệp, TCP sẽ chia những thông điệp này thành các packet, mỗi packet được đánh dấu bởi một số thứ tự và địa chỉ của người nhận, thêm vào đó là một số thông tin kiểm soát lỗi. Các packet này được gửi lên mạng và công việc của IP là truyền tải chúng tới Host từ xa kia.
Tại nơi nhận , TCP nhận các packet BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP 6 do an CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT và kiểm tra lỗi, gửi trả lại nếu gói không đúng, với những gói đúng, TCP sử dụng số thứ tự để tạo lại thông điệp ban đầu. Tóm lại, công việc của IP là chuyển dữ liệu thô các packet từ nơi này đến nơi khác. Công việc của TCP là quản lý dòng chảy và đảm bảo rằng dữ liệu là đúng.
Trong mô hình TCP/IP gồm có các tầng Ứng dụng (application) , tầng Giao vận (transport), tầng Mạng (NetWork), sau cùng đi tới tầng Host – to – network. Chức năng của các tầng là: Tầng Host-to-network: Kết nối host với network sao cho chúng có thể chuyển các thông báo tới các địa chỉ IP. Tầng mạng: Đây là lớp thực hiện một hệ thống mạng có khả năng chuyển mạch các gói dữ liệu dựa trên một lớp mạng. Nhiệm vụ của lớp này đảm bảo cho các host chuyển các packet của chúng vào mạng bất kỳ cà chuyển chúng đến đích mà không phụ thuộc vào vị trí của đích đến.
Địa chỉ IP nằm ở tầng này. Tầng giao vận Tầng giao vận được thiết kế cho các phần tử ngang cấp ở lớp host có thể đối thoại được với nhau. 2 Protocol chính là: - TCP (Transmission Control Protocol) giao thức điều khiển truyền tin. - UDP (User Datagram Protocol) cung cấp giao diện ứng dụng.
Số hiệu Port (cổng): Một máy có thể liên lạc với một máy khác trong mạng qua địa chỉ IP. Tuy nhiên, với một địa chỉ như vậy không đủ cho tiến trình (process) của máy này liên lạc với một tiến trình của một máy khác. Vì vậy, TCP/UDP đã dùng 16 bits để có thể đặc tả nên một số hiệu cổng. Như vậy để 2 tiến trình của 2 máy hoặc Wi-Fi bất kỳ trong mạng có thể giao tiếp được với nhau thì mỗi đơn vị dữ liệu (frame) ở tầng Mạng có IP gồm: BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP 7 do an CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT - Protocol (TCP/UDP) - Địa chỉ IP của máy nguồn - Số hiệu cổng của tiến trình ở máy nguồn - Địa chỉ IP của máy đích. - Số hiệu cổng của tiến trình ở máy đích Tầng ứng dụng Chứa các dịch vụ như trong các tầng Hội, tầng Trình diễn, tầng Ứng dụng của mô hình OSI.2 Hệ thống điều hành Android 2.1 Khái niệm Android là một hệ điều hành dành cho các thiết bị di động như điện thoại máy tính bản và các thiết bị đeo. Android được phát triển bởi Google, dựa trên nền tản Linux Kernel và các phần mềm nguồn mở. Ban đầu nó được phát triển bởi Android Inc (sau đó được Google mua lại) và gần đây nó trở thành một trong những phần mềm đứng đầu của liên minh OHA (Open Handset Allience - với khoảng 78 thành viên bao gồm cả nhà sản xuất, nhà phát triển ứng dụng … cho thiết bị di động mà dẫn đầu là Google).
Andorid được phát triển nhằm cạnh tranh với các hệ điều hành di động khác như iOS (Apple), BlackBerry OS, Windows Mobile (Microsoft), Symbian (Nokia), Bada (Samsung), WebOS (Palm). Android có một cộng đồng phát triển ứng dụng rất lớn, tính đến tháng 08/2014 hiện có hơn khoảng 1.4 triệu có sẵn trên Play Store và đang liên tục được cập nhật. Ứng dụng được phát triển bằng ngôn ngữ Java kết hợp với thư viện Java có sẵn của Google. Các nhà phát triển ứng dụng có thể sử dụng máy tính chạy hệ điều hành Windows hoặc MacOS hoặc Linux kết hợp với Android SDK để phát triển ứng dụng cho Android.2 Lịch sử phát triển Tổng công ty Android (Android, Inc.) được thành lập tại PaloAlto, California vào tháng 10 năm 2003 bởi Andy Rubin (đồng sáng lập công ty Danger).
Dù những người thành lập và nhân viên đều là những người có tiếng tăm, nhưng tổng công ty Android hoạt động một cách âm thầm, chỉ tiết lộ rằng họ đang làm phần mềm dành cho điện thoại di động. Google mua lại Tổng công ty Android vào ngày 17 tháng 8 năm 2005, biến nó thành một bộ phận trực thuộc Google. Vào thời điểm đó không có BỘ MÔN ĐIỆN TỬ CÔNG NGHIỆP 8 do an CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT nhiều thông tin về Tổng công ty, nhưng nhiều người đồn đoán rằng Google dự tính tham gia thị trường điện thoại di động sau bước đi này.
Tại Google, nhóm do Rubin đứng đầu đã phát triển một nền tảng thiết bị di động phát triển trên nền nhân Linux. Google quảng bá nền tảng này cho các nhà sản xuất điện thoại và các nhà mạng với lời hứa sẽ cung cấp một hệ thống uyển chuyển và có khả năng nâng cấp. Google đã liên hệ với hàng loạt hãng phần cứng cũng như đối tác phần mềm, bắn tin cho các nhà mạng rằng họ sẵn sàng hợp tác với các cấp độ khác nhau. Ngày 5 tháng 11 năm 2007, Liên minh thiết bị cầm tay mở (Open Handset Alliance), một hiệp hội bao gồm nhiều công ty trong đó có Texas Instruments, Tập đoàn Broadcom, Google, HTC, Intel, LG, Tập đoàn Marvell Technology, Motorola, Nvidia, Qualcomm, Samsung Electronics, Sprint Nextel và T-Mobile được thành lập với mục đích phát triển các tiêu chuẩn mở cho thiết bị di động.
Cùng ngày, Android cũng được ra mắt với vai trò là sản phẩm đầu tiên của Liên minh, một nền tảng thiết bị di động được xây dựng trên nhân Linux phiên bản 2. Chiếc điện thoại chạy Android đầu tiên được bán ra là HTC Dream, phát hành ngày 22 tháng 10 năm 2008. Biểu trưng của hệ điều hành Android mới là một con robot màu xanh lá cây. Từ năm 2008, Android đã trải qua nhiều lần cập nhật để dần dần cải tiến hệ điều hành, bổ sung các tính năng mới và sửa các lỗi trong những lần phát hành trước.
Mỗi bản nâng cấp được đặt tên lần lượt theo thứ tự bảng chữ cái, theo tên của một món ăn tráng miệng; ví dụ như phiên bản 1.5 Cupcake, sau đó tiếp nối bằng phiên bản 1. Phiên bản mới nhất hiện nay là 5. Vào năm 2010, Google ra mắt loạt thiết bị Nexus - một dòng sản phẩm bao gồm điện thoại thông minh và máy tính bảng chạy hệ điều hành Android, do các đối tác phần cứng sản xuất. HTC đã hợp tác với Google trong chiếc điện thoại thông minh Nexus đầu tiên, Nexus One.
Kể từ đó nhiều thiết bị mới hơn đã gia nhập vào dòng sản phẩm này, như điện thoại Nexus 4 và máy tính bảng Nexus 10, lần lượt do LG và Samsung sản xuất. Google xem điện thoại và máy tính bảng Nexus là những thiết bị Android chủ lực của mình, với những tính năng phần cứng và phần mềm mới nhất của Android.