CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC CHUNG VE DIEN NGON NU’ QUYEN VA BA TAC PHAM DIEN ANH TIEU BIEU. Chơng này gồm hai mục tơng ứng với hai nội dung: Một số vẫn đề lý luận về nữ quyền và diễn ngôn nữ quyền; Những âm hởng nữ quyền trong văn học và điện ảnh đơng đại Việt Nam. Một số vẫn đề về nữ quyền và diễn ngôn nữ quyền. Khái niệm nữ quyền.
“Đàn bà đợc sinh ra từ chiếc xơng sờn của đàn ông”. Motif này trong Kinh Thánh cho thấy ngay từ khi con ngời có ý niệm về phái tính thì phụ nữ đã đợc xem là phần “không hoàn hảo”, “thấp kém” so với nam giới. Phái tính đợc xem là một dạng thức đơn sơ của nữ quyền. Có khởi phát từ “quan niệm xã hội” hay nói cách khác là từ những quy định do chính con ngời tạo ra và đợc chấp nhận và trở thành chuẩn mực, vì vậy mà mỗi một thời đại, tòy vào sự phát triển của hình thái xã hội, lại có khái niệm về nữ quyền khác nhau.
Năm 1894 và 1895, thuật ngữ ƒeminist (nhà hoạt động nữ quyền) và ƒ@minism (nữ quyền) đã xuất hiện trong tir dién Oxford English Dictionary [35] Theo từ điển Cambridge: Ni quyén là niềm tin rằng nữ giới đợc trao các quyền, quyền lực, cơ hội giống nh nam giới và đợc đối xử theo cùng một cách, hoặc tập hợp các hoạt động nhằm đạt đợc điều nay (the belief that women should be allowed the same rights, power, and opportunities as men and be treated in the same way, or the set of activities intended to achieve this state) [65] Từ điển Oxford thì giải thích: Nữ quyền là sự ủng hộ quyền của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng giới (the belief and aim that women should have the same rights and opportunities as men; the struggle to achieve this aim) [70] Phùng Thủy trong khảo luận vé Ly thuyét nie quyén [54] dan ra 2 khái niệm về nữ quyền của Kamla Bhasin và Hoàng Bá Thịnh nh sau: “Theo Kamla Bhasin, 2003: Nữ quyền là sự nhận thức về sự thống trị gia trởng, sự bóc lột và áp bức ở các cấp độ vật chất và t tởng đối với lao động, sự sinh sản và tình dục của phụ nữ trong gia đình, ở nơi làm việc và trong xã hội nói chung, là hành động có ý thức của phụ nữ và nam giới làm thay đổi tình trạng đó”; Theo Hoàng Bá Thịnh (2008): Nữ quyền là quyền của phụ nữ và hiểu đầy đủ thì đó là đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Với niềm tin dựa trên nguyên tắc cho rằng phụ nữ phải có các quyền và cơ may trong cuộc sống nh nam giới về chính trị, kinh tế, luật pháp. 10 Xem xét sự phát triển của phong trào nữ quyên từ khi khởi thủy cho đến nay cũng chính là nhận ra những thay đổi trong khái niệm nữ quyền theo các thời đại. Đồng thời, đây là cơ sở cho phơng pháp tiếp cận, phân tích, phơng pháp đọc văn học và văn hóa về nữ quyền trong phê bình điện ảnh.
Lịch sử phát triển của nữ quyền và nữ quyên luận. Có bắt bình đẳng thì sẽ có đấu tranh. Cuộc đấu tranh để giành lại vị thế của nữ giới vốn âm ỉ trong lịch sử. Theo Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Vấn đề phái tính và dm hong nit quyễn trong văn học Việt Nam đơng đại [12] cuộc đấu tranh này chỉ đợc xem là phong trào nữ quyền, đấu tranh cho quyền của nữ giới khi nó “bùng phát mạnh mẽ từ việc ý thức bản thân mình của nữ giới đợc manh nha vào thời kỳ Khai sáng và bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XIX đến nay”.
Trần Huyền Sâm trong chuyên luận Nữ quyên luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đơng đại [46] đã chỉ ra rằng, làn sóng nữ quyền thứ nhất chỉ thật sự khởi phát từ Bản tuyên ngôn về quyền của phụ nữ và công dân do Marie — Olimpe de Rouges đề xuất năm 1791. Trong Tuyên ngôn này, Marie - Olimpe de Rouges dé xuat những quyền lợi chính đáng của phụ nữ mà chế độ nam quyền tớc đoạt. Đoàn Huỳnh Kim trong bài viết trên trang mạng xã hội của Tổ chức thúc đây bình đẳng giới Việt Nam VOGE [24] nhấn mạnh dấu mốc 1848 với vai trò của Elizabeth Cady Stanton, nhà hoạt động xã hội Mỹ, nhân vật hàng đầu trong phong trào nữ quyền thời kỳ đầu, đã lần đầu tiên nêu ra những t tởng và đờng lối chính trị để giành lại công bằng cho phụ nữ, cụ thê là quyền đợc tham gia bầu cử. Đây cũng là lần đầu tiên, những việc “không nữ tính” nh nói trớc đám đông, biểu lộ lập trờng, truyền dat t tong doc phu nữ thực hiện công khai.
Đồng thời, chính điều này đợc xem là khởi phát cho làn sóng nữ quyền đầu tiên trong lịch sử xã hội loài ngời. Cũng theo Đoàn Huỳnh Kim, làn sóng nữ quyền thứ 2 là trong khoảng thời gian thập kỷ 60 đến 90 của thế kỷ 20. Khởi phát bằng cuộc biểu tình tại thành phố Atlantic, Mỹ vào những năm 1968 -1969 nhằm phản đối cuộc thi Hoa hậu Mỹ - Miss America lần thứ 41. Cũng trong các cuộc biểu tình này, các nhà hoạt động đấu tranh cho nữ quyền — Femimist, “đã “nhại” lại những vật dụng họ xem là công cụ để hạ thấp giá trị phụ nữ xuống thành các vật thể xinh đẹp và giam cầm họ trong những công việc nội trợ hay mức lơng thấp.
Thậm chí, Đảng cấp tiến Redstockings tại New York lúc đó còn lập ra những “thùng rác tự do” — Freedom trash cans để vứt những vật dụng đợc cho là biểu tong mang tính đàn áp phụ nữ nh áo ngực, giày cao gót, đồ trang điểm. Làn sóng nữ quyền thứ 2 với mục tiêu đấu tranh giành quyền tự do sinh sản và tình dục cho phụ nữ, giải 11 quyết kỳ thị tại nơi làm việc bằng việc đòi hỏi mức lơng công bằng ở cùng một công việc với nam giới cho phụ nữ. Bắt đầu vào giữa những năm 90 của thế kỷ 20, làn sóng nữ quyền thứ 3 lại khác biệt hẵn với 2 làn sóng nữ quyền trớc đó với quan niệm “chúng ta vừa có thê mặc áo nâng ngực vừa có não”. Điều này có nghĩa là phụ nữ không xem mình là nạn nhân, và vẻ đẹp nữ tính của những son môi, giày cao gót, để lộ ngực một cách tự hào là trong vị thế của một ngời chủ động.
Sự chủ động này đến từ sự lạc quan nhng với một khía cạnh khác, sự lạc quan quá mức lại dẫn đến những hình ảnh xấu khi mà một Feminist bị gắn với việc “đá đêu” đàn ông, cực đoan và hung đữ. Khắc phục những hình ảnh xấu về nữ quyền của làn sóng thứ 3, mang đợc điểm mạnh của cả hai làn sóng nữ quyền thứ 2 và thứ 3, đồng thời có những biến đổi phù hợp với xu thế xã hội, chính là đặc điểm của làn sóng nữ quyền thứ 4 ở thời điểm hiện nay. Sự tự do của phụ nữ đợc tôn vinh với đúng ý nghĩa của nó khi phụ nữ đợc chọn lựa và quyết định cuộc sống của mình mà không bị bất cứ sự chê bai hay soi mói nào từ định kiến xã hội. Mặt khác, làn sóng nữ quyền thứ 4 quan tâm nhiều hơn đến sự trải nghiệm (intersectionality) khác nhau của phụ nữ với những hoàn cảnh khác nhau (phụ nữ chuyên giới, phụ nữ nhập c, phụ nữ khuyết tật.
Nữ quyền đợc liên kết với “sinh thái học”, sự liên kết giữa một hoạt động xã hội với một phong trào học thuật trở thành khái niệm “nữ quyền sinh thái” — Ecofeminism. Nữ quyền sinh thái xem nữ quyền nh là một sự tất yếu của tự nhiên, gắn với mẹ thiên nhiên, vì vậy hủy hoại, xâm hại nữ quyền cũng chính là phá vỡ quy luật tự nhiên, tàn phá mẹ trái đất. Đấu tranh cho nữ quyền cũng vì vậy mà không chỉ còn là công việc dành riêng cho phụ nữ. Nữ quyền luận hay phê bình nữ quyền, theo Trần Huyền Sâm chính là “một cuộc đối thoại quyết liệt giữa giới nữ và các nhà triết học nam quyền”[45].
Bởi vậy sự thay đổi mục tiêu đấu tranh trong mỗi làn sóng nữ quyền đã dẫn đến những thay đổi ít nhiều trong nội dung lý thuyết. Phê bình nữ quyền luận, theo nhiều nhà nghiên cứu bắt đầu thịnh hành từ cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, song hành với các phong trào đấu tranh cho nữ quyền rất mạnh mẽ ở giai đoạn này. Nữ quyền luận thời kỳ này có bớc phát triển mới từ tiền đề mà hai nhà văn nữ là Virginia Woolf và Simone de Beauvoir đề ra từ thập niên 20, 40 của thế kỷ 20. Đó là, sự phê phán gay gắt nền văn hóa phụ hệ, xem nam giới đồng nghĩa với nhân loại, đồng nhất với lịch sử, còn phụ nữ thì phải dựa vào nam giới để định nghĩa chính mình khi luôn bị xem là “cái khác” (Other) dới nhiều giác độ, nhiều phơng pháp luận khác nhau.
Peter Barry trong Beginning Theory — An introduction to literary and cultural theory (tam dich la Béc khéi dau ctia ly thuyét- Gidi thiệu về lý thuyết văn học và văn 12 hoá bản dịch của Cao Hạnh Thủy trên Tạp chí Đại học Sài Gòn, Bình luận văn học, năm 2013) [2] chia nữ quyền luận thành các giai đoạn tuơng ứng với các làn sóng nữ quyền thông qua hình tợng nhân vật nữ trong văn học nh sau: Giai đoạn làn sóng nữ quyền thứ nhất, nữ quyền luận còn sơ khai, các nhân vật nữ trong tiểu thuyết vì vậy mà chỉ chú trọng vào việc lựa chọn đối tác hôn nhân, yếu tố có tính quyết định địa vị xã hội của họ trong phần đời còn lại. Phụ nữ gần nh chỉ vì những hoàn cảnh bức bách mới ra ngoài mu sinh, mọi việc đợc xem là của phụ nữ chỉ bó gọn trong khuôn khô bốn bức tờng của gia đình. Giai đoạn làn sóng nữ quyền thứ hai, nữ quyền luận tập trung vào bản chất của van dé gia trong, trong đó nôi lên hai van dé lớn là văn hóa của những ý nghĩ bị áp đặt bởi nam giới và sự bất bình đẳng trong tình dục với nữ giới. Chính vì vậy, có đến 3 mục tiêu của nữ quyền luận trong giai đoạn này.
Thứ nhất, tất cả những cái nh là bản ngã và bản sắc, bao gồm cả bản sắc của giới tính (với phụ nữ nó thờng đợc gọi là tính nữ) không phải là bất biến. Đây chính là tinh than của tuyên ngôn “ngời ta không sinh ra là phụ nữ, ngời ta trở thành phụ nữ” của Simone de Beauvoir.