Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên nước mặt đóng vai trò cốt lõi trong sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh môi trường. Việt Nam sở hữu mạng lưới sông ngòi dày đặc với 13 hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực trên 10.000 km², chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy toàn cầu. Tuy nhiên, nguồn nước mặt đang chịu sức ép nghiêm trọng từ ô nhiễm và suy thoái dòng chảy. Trên địa bàn thành phố Hà Nội – trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ có mật độ dân cư cao – áp lực xả thải sinh hoạt và sản xuất chưa qua xử lý xuống các lưu vực sông nội địa ngày một gia tăng. Điển hình trong số đó là lưu vực sông Nhuệ – sông Đáy, nơi chất lượng nước mặt bị suy thoái nặng nề, nhiều đoạn sông vượt ngưỡng quy chuẩn cho phép gấp nhiều lần và rơi vào tình trạng ô nhiễm báo động.

Lưu vực sông Nhuệ – Đáy có diện tích tự nhiên 7.665 km², chiều dài lưu vực 314 km, giữ vai trò cung cấp nước tưới tiêu và sinh hoạt cho các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Áp lực ô nhiễm trên lưu vực xuất phát từ nhiều nguồn thải tập trung và phân tán:

  • Nước thải sinh hoạt đô thị: Lưu lượng xả khoảng 120 triệu m³/năm trên toàn lưu vực; riêng khu vực Cầu Tó (huyện Thanh Trì) tiếp nhận khoảng 500.000 m³/ngày đêm nước thải sinh hoạt của thành phố Hà Nội.
  • Nước thải công nghiệp: Khoảng 25 triệu m³/năm (tương đương 610.000 m³/ngày) từ gần 1.000 doanh nghiệp và các khu công nghiệp tập trung.
  • Nước thải nông nghiệp: Ước tính trên 2,5 triệu m³/ngày từ hoạt động canh tác, thủy sản.
  • Nước thải y tế: Khoảng 15.500 m³/ngày từ các cơ sở khám chữa bệnh.
  • Nước thải làng nghề: Phát sinh từ gần 400 làng nghề và 12.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp dọc lưu vực.

Mục tiêu của đề tài:

  1. Mục tiêu tổng quát:
    • Đánh giá hiện trạng và diễn biến một số chỉ tiêu chất lượng nước sông Nhuệ – Đáy giai đoạn 2000 – 2013.
    • Đề xuất các giải pháp về quản lý và kỹ thuật nhằm bảo vệ, nâng cao chất lượng nguồn nước sông Nhuệ – Đáy nói chung và đoạn qua Hà Nội nói riêng.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Tìm hiểu hiện trạng chất lượng nước sông Nhuệ – Đáy đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000 – 2013.
    • Phân tích diễn biến các chỉ tiêu chất lượng nước sông trong giai đoạn nghiên cứu.
    • Đánh giá sự thay đổi của các chỉ tiêu chất lượng nước giữa các giai đoạn và giữa các vị trí quan trắc.
    • Đề xuất các biện pháp khả thi nhằm khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Diễn biến 10 chỉ tiêu chất lượng nước bao gồm pH, nhiệt độ, oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD₅), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Coliform, sắt tổng số (Fe), amoni (NH₄⁺), và nitrat (NO₃⁻).
  • Phạm vi không gian: Hệ thống sông Nhuệ – Đáy đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội, tập trung tại 11 vị trí quan trắc trọng điểm: Cống Liên Mạc, Phúc La, Cự Đà, Cầu Chiếc, Cầu Mai Lĩnh, Ba Thá, Nghĩa Đô, Cầu Mới, Tựu Liệt, Phương Liệt, Cầu Sét.
  • Phạm vi thời gian: Chuỗi dữ liệu đánh giá từ năm 2000 đến năm 2013; thời gian thực hiện nghiên cứu thực tế từ ngày 15/01/2014 đến ngày 30/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực về khoa học môi trường và quản lý tài nguyên nước:

  • Khái niệm môi trường theo định nghĩa của UNESCO và Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005.
  • Khái niệm ô nhiễm môi trường theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Luật Bảo vệ Môi trường 2005.
  • Khái niệm ô nhiễm nước mặt và nước ngầm theo Hiến chương Châu Âu về nước, phân loại các tác nhân gây ô nhiễm thành vô cơ, hữu cơ, hóa chất, sinh học và tác nhân vật lý.
  • Khái niệm quản lý môi trường và tiêu chuẩn môi trường trong kiểm soát chất lượng nước.

Khung văn bản pháp lý

Đề tài căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia:

  • Luật Tài nguyên nước năm 1998; Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.
  • Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 179/1999/NĐ-CP, Nghị định số 162/2003/NĐ-CP, Nghị định số 149/2004/NĐ-CP, Nghị định số 34/2005/NĐ-CP, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP, Nghị định số 29/2011/NĐ-CP.
  • Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2010.
  • Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT, Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: QCVN 08:2008/BTNMT (chất lượng nước mặt - đối chiếu theo Cột A2 và B1), QCVN 09:2008/BTNMT (nước ngầm), QCVN 14:2008/BTNMT (nước thải sinh hoạt).

Phương pháp nghiên cứu và quy trình phân tích

Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ Chi cục Môi trường Hà Nội, Trung tâm Quan trắc Môi trường (Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường), các báo cáo thường niên của Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ – Đáy.
  2. Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Mẫu nước được thu thập và bảo quản theo tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và quốc tế (ISO) đạt chứng chỉ VILAS:
    • Xác định pH: TCVN 6492-1999 (ISO 10523:1994).
    • Xác định DO: TCVN 5499-1995 (Phương pháp Winkler).
    • Xác định TSS: TCVN 6625-2000 (Lọc qua màng sợi thủy tinh).
    • Xác định BOD₅: TCVN 6001-1995 (Phương pháp cấy và pha loãng sau 5 ngày).
    • Xác định COD: TCVN 6491-1999 (Phương pháp chuẩn độ Bicromat).
    • Xác định Coliform: TCVN 6187-1-1996 (ISO 9308-1:1990 - Phương pháp màng lọc).
  3. Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel để thống kê, tổng hợp bảng số liệu, biểu đồ so sánh.
  4. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Tham vấn giảng viên hướng dẫn, cán bộ chuyên trách tại Trung tâm phát triển, ứng dụng kỹ thuật và Công nghệ môi trường.
  5. Phương pháp so sánh và đánh giá: Đối chiếu trực tiếp giá trị quan trắc thực tế với các ngưỡng giới hạn quy định tại QCVN 08:2008/BTNMT.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng suy thoái chất lượng nước sông Nhuệ – Đáy đoạn qua Hà Nội. Xác định rõ mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, 4 yêu cầu kỹ thuật và phân tích ý nghĩa lý luận, thực tiễn của nghiên cứu đối với công tác quản lý tài nguyên nước.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Tổng hợp cơ sở lý luận về môi trường, phân loại các nguồn ô nhiễm nước tự nhiên và nhân tạo.
  • Khái quát khung pháp lý Việt Nam liên quan đến quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường.
  • Tổng quan thực trạng môi trường nước trên thế giới qua số liệu thống kê tài nguyên nước toàn cầu (Tyson, 1989) và trường hợp ô nhiễm tại các dòng sông lớn (sông Hằng, sông Mississippi, sông Hoàng Hà, sông Marilao, sông Tùng Hoa, sông Sarno, sông King).
  • Đánh giá hiện trạng 9 hệ thống sông chính tại Việt Nam (sông Hồng, Bằng Giang – Kỳ Cùng, Mã, Cả La, Thu Bồn, Ba, Đồng Nai, Mê Kông, Thái Bình) và phân tích các nghiên cứu ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng trên lưu vực sông Cầu, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai – Thị Vải và lưu vực sông Nhuệ – Đáy.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

  • Quy định cụ thể đối tượng nghiên cứu (10 chỉ tiêu chất lượng nước), phạm vi không gian (11 trạm quan trắc trên địa bàn Hà Nội) và thời gian thực hiện.
  • Chi tiết hóa nội dung khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, lưu lượng dòng chảy và diễn biến chất lượng nước giai đoạn 2000 – 2013.
  • Trình bày 5 phương pháp nghiên cứu cụ thể, quy trình lấy mẫu, tiêu chuẩn phân tích TCVN/ISO trong phòng thí nghiệm đạt chuẩn VILAS.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Diện tích lưu vực 7.665 km², trải dài 314 km qua Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định. Địa hình gồm 30% vùng núi, 10% vùng đồi và 60% vùng đồng bằng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình 1.650 mm/năm (83% tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9). Thổ nhưỡng gồm đất mặn ven biển, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất vàng đỏ và đất xói mòn trơ sỏi đá. Dân số toàn lưu vực ước tính năm 2013 đạt 14,77 triệu người.
  • Thủy lực và lưu lượng dòng chảy: Dòng chảy phân hóa thành hai mùa: mùa lũ (tháng 6 – 10) chiếm 70 – 80% tổng lượng dòng chảy năm; mùa kiệt (tháng 11 – 5 năm sau) chỉ chiếm 15 – 25% lượng nước cả năm. 85% dòng chảy sông Đáy tại Hà Nội do sông Hồng chuyển sang. Sông Tô Lịch thường xuyên xả nước thải vào sông Nhuệ với lưu lượng trung bình 11 – 17 m³/s (cực đại 30 m³/s).
  • Diễn biến chất lượng nước giai đoạn 2000 – 2005: Giai đoạn này chưa triển khai các chương trình quan trắc định kỳ đồng bộ, chất lượng nước bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm khi tiếp nhận lượng nước thải công nghiệp và đô thị ngày càng lớn. Nồng độ COD vượt giới hạn cho phép loại A từ 2 – 3 lần, BOD₅ vượt 4 – 6 lần, DO giảm thấp chỉ đạt khoảng 2 mg/L.
  • Kết quả quan trắc chi tiết năm 2010 qua 3 đợt quan trắc:
    • Nhiệt độ: Dao động từ 24 đến 31 °C; nhiệt độ đợt 2 cao hơn đợt 1 và đợt 3.
    • Độ pH: Đa số điểm quan trắc (Phúc La, Cầu Chiếc, Cầu Mới, Phương Liệt, Cầu Sét, Tựu Liệt) đạt chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 và B1 cả 3 đợt; đợt 3 tại Cự Đà và Nghĩa Đô vượt chuẩn, tại Cầu Mai Lĩnh và Ba Thá chưa đạt mức trung tính.
    • Chỉ số DO: Hầu hết các trạm không đạt quy chuẩn cột A2 và B1. Các trạm Phúc La, Cự Đà, Cầu Mới, Phương Liệt, Cầu Sét, Tựu Liệt đều có DO rất thấp trong cả 3 đợt đo.
    • Chỉ số BOD₅: Vượt ngưỡng quy chuẩn tại Cự Đà, Cầu Mới, Phương Liệt, Cầu Sét và Tựu Liệt trong toàn bộ các đợt quan trắc.
    • Chỉ số COD và Coliform: Ô nhiễm hữu cơ và vi sinh ở mức đặc biệt nghiêm trọng tại hầu hết các vị trí lấy mẫu.
Vị trí quan trắc Mức vượt COD so với Cột A2 (lần) Mức vượt COD so với Cột B1 (lần) Mức vượt Coliform so với Cột A2 (lần) Mức vượt Coliform so với Cột B1 (lần)
Cống Liên Mạc Chưa đạt chuẩn Chưa đạt chuẩn 11,46 8,19
Phúc La 4,13 2,07 16,63 11,08
Cự Đà 5,33 2,67 13,80 9,20
Cầu Chiếc 3,51 1,76 24,90 16,60
Cầu Mai Lĩnh Vượt đợt 1, 2 Vượt đợt 1 3,66 2,44
Ba Thá 1,27 0,63 1,70 1,13
Nghĩa Đô 4,70 2,35 56,46 37,64
Cầu Mới 5,86 2,93 25,90 17,26
Phương Liệt 7,75 3,87 32,26 21,51
Cầu Sét 9,26 4,63 37,00 24,66
Tựu Liệt 8,06 4,03 43,16 28,77
  • Chỉ số TSS: Hàm lượng chất rắn lơ lửng dao động không đồng đều, nhiều điểm vượt chuẩn cột A2 vào đợt 1 (Nghĩa Đô, Cầu Mới, Phương Liệt) và đợt 2 (Cống Liên Mạc, Phúc La, Cầu Mai Lĩnh).

  • Chỉ số Fe: Ghi nhận vượt chuẩn cột A2 tại một số đợt ở Phúc La, Cự Đà, Cầu Chiếc, Cầu Mai Lĩnh, Ba Thá, Phương Liệt, Tựu Liệt; trong đó Phúc La (đợt 1), Cự Đà (đợt 1, 3), Cầu Mai Lĩnh (đợt 3) và Tựu Liệt (đợt 1) vượt chuẩn cột B1.

  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp bảo vệ môi trường nước:

    1. Kỹ thuật xử lý: Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại nguồn cho các cơ sở sản xuất; xây dựng trạm xử lý nước thải công nghiệp và đô thị tập trung trước khi xả ra lưu vực.
    2. Quy hoạch, xây dựng: Quy hoạch mạng lưới tiêu thoát nước phân tách nước mưa và nước thải; di dời các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư.
    3. Quản lý và xử lý vi phạm: Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc cấp phép xả thải theo Nghị định 117/2009/NĐ-CP; cưỡng chế hoặc đình chỉ hoạt động cơ sở vi phạm nghiêm trọng.
    4. Truyền thông và cộng đồng: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng cư dân ven sông, ngăn chặn hành vi xả rác trực tiếp xuống lòng sông.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn diện mức độ suy giảm chất lượng nước trên hệ thống sông Nhuệ – Đáy, chỉ rõ tình trạng ô nhiễm hữu cơ và vi sinh diễn ra nghiêm trọng từ thượng lưu về hạ lưu trong mùa kiệt, đồng thời đề xuất kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước về vận hành điều tiết nước và kiểm soát nguồn thải.


Kết quả và đóng góp thực tiễn

Kết quả định lượng chính

  1. Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về chất lượng nước sông Nhuệ – Đáy qua chuỗi thời gian 2000 – 2013, làm nổi bật sự suy giảm chất lượng nước mạnh mẽ gắn liền với tốc độ gia tăng dân số (đạt 14,77 triệu người năm 2013) và đô thị hóa.
  2. Xác định nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ (COD, BOD₅) và ô nhiễm vi sinh (Coliform) vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT tại hầu hết các trạm quan trắc trên địa bàn Hà Nội. Cụ thể, trạm Cầu Sét có mức vượt COD cao nhất (gấp 9,26 lần so với cột A2 và 4,63 lần so với cột B1); trạm Nghĩa Đô ghi nhận ô nhiễm vi sinh nghiêm trọng nhất với Coliform vượt tới 56,46 lần so với cột A2 và 37,64 lần so với cột B1.
  3. Phân tích rõ tác động của cơ chế thủy lực và chế độ vận hành công trình (cống Liên Mạc, đập Thanh Liệt, cống Lương Cổ) tới chất lượng nước sông Nhuệ. Trong mùa kiệt, chất lượng nước phụ thuộc trực tiếp vào lưu lượng pha loãng từ sông Hồng qua cống Liên Mạc (yêu cầu mở tối đa công suất 60 m³/s để duy trì chất lượng nước đạt chuẩn B).

Đóng góp thực tiễn và giải pháp

  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ kết hợp giữa kỹ thuật xử lý (xử lý tại nguồn, xử lý nước thải công nghiệp tập trung), quy hoạch hạ tầng thoát nước và chế tài pháp lý xử phạt hành chính theo quy định.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu định lượng cụ thể phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước cho các cơ quan chức năng thuộc thành phố Hà Nội và Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ – Đáy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Nguồn số liệu quan trắc trong giai đoạn 2000 – 2005 còn thiếu tính đồng bộ và liên tục do chưa thiết lập đầy đủ mạng lưới trạm quan trắc định kỳ trên toàn lưu vực.
    • Số liệu phân tích năm 2013 chủ yếu kế thừa từ các chương trình quan trắc của cơ quan quản lý (Cục Môi trường), chưa thực hiện được các đợt lấy mẫu độc lập mở rộng theo nhiều mùa trong năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quan trắc tự động liên tục đối với các thông số dinh dưỡng chuyên sâu (NH₄⁺, NO₃⁻, PO₄³⁻) và kim loại nặng trên toàn tuyến sông.
    • Ứng dụng mô hình hóa thủy lực và chất lượng nước (như MIKE 11, QUAL2K) để dự báo sức chịu tải môi trường của lưu vực sông Nhuệ – Đáy theo từng kịch bản biến đổi khí hậu và vận hành điều tiết liên hồ chứa.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Thủy văn học.
    • Cán bộ quản lý môi trường tại các Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý lưu vực sông, các viện nghiên cứu và tổ chức bảo vệ môi trường.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Bảng số liệu phân tích đối chiếu 10 thông số quan trắc môi trường nước năm 2010 tại 11 trạm quan trắc trọng điểm trên địa bàn Hà Nội.
    • Phương pháp luận kết hợp giữa phân tích số liệu quan trắc thực nghiệm theo chuẩn TCVN/ISO với đối chiếu quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT.

Câu hỏi thường gặp

1. Lưu vực sông Nhuệ – Đáy tiếp nhận những nguồn nước thải chính nào từ địa bàn thành phố Hà Nội?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận, hệ thống tiếp nhận khoảng 120 triệu m³/năm nước thải sinh hoạt đô thị (khu vực Cầu Tó tiếp nhận khoảng 500.000 m³/ngày đêm); 25 triệu m³/năm (610.000 m³/ngày) nước thải công nghiệp; trên 2,5 triệu m³/ngày nước thải nông nghiệp; 15.500 m³/ngày nước thải y tế và lượng lớn nước thải từ gần 400 làng nghề.

2. Điểm quan trắc nào ghi nhận mức độ ô nhiễm vi sinh (Coliform) cao nhất trong năm 2010?
Trạm Nghĩa Đô ghi nhận nồng độ Coliform cao nhất, vượt 56,46 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2) và vượt 37,64 lần so với Cột B1. Tiếp theo là các trạm Tựu Liệt (vượt 43,16 lần Cột A2), Cầu Sét (vượt 37,00 lần Cột A2) và Phương Liệt (vượt 32,26 lần Cột A2).

3. Mức độ ô nhiễm chất hữu cơ qua thông số COD tại các trạm quan trắc diễn biến ra sao?
Chỉ số COD vượt quy chuẩn tại hầu hết các trạm: Cầu Sét vượt cao nhất (9,26 lần Cột A2; 4,63 lần Cột B1), Tựu Liệt (8,06 lần Cột A2; 4,03 lần Cột B1), Phương Liệt (7,75 lần Cột A2; 3,87 lần Cột B1), Cầu Mới (5,86 lần Cột A2; 2,93 lần Cột B1) và Cự Đà (5,33 lần Cột A2; 2,67 lần Cột B1).

4. Khóa luận sử dụng các phương pháp tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) nào để phân tích mẫu nước trong phòng thí nghiệm?
Tác giả sử dụng các tiêu chuẩn phân tích đạt chuẩn VILAS gồm: TCVN 6492-1999 (pH), TCVN 5499-1995 (DO theo phương pháp Winkler), TCVN 6625-2000 (TSS qua màng lọc sợi thủy tinh), TCVN 6001-1995 (BOD₅ phương pháp cấy và pha loãng), TCVN 6491-1999 (COD) và TCVN 6187-1-1996 (Coliform phương pháp màng lọc).

5. Chế độ vận hành cống Liên Mạc ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng nước sông Nhuệ trong mùa kiệt?
Trong mùa kiệt, nếu cống Liên Mạc mở to lấy nước sông Hồng chảy vào, chất lượng nước sông Nhuệ phía hạ du được cải thiện đáng kể nhờ hiện tượng pha loãng. Ngược lại, nếu cống đóng hoặc mở khẩu độ nhỏ trong khi khu vực Thanh Trì tiếp tục nhận nước thải từ sông Tô Lịch (11 – 17 m³/s), hạ lưu sông Nhuệ sẽ xảy ra sự cố suy giảm chất lượng nước nghiêm trọng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phó Thị Lan Anh đã phản ánh chi tiết hiện trạng và diễn biến suy thoái chất lượng nước sông Nhuệ – Đáy đoạn chảy qua Hà Nội giai đoạn 2000 – 2013 dựa trên chuỗi dữ liệu quan trắc 10 thông số hóa lý và vi sinh. Kết quả nghiên cứu khẳng định môi trường nước sông bị ô nhiễm chất hữu cơ và vi sinh vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT nhiều lần, đặc biệt nghiêm trọng vào mùa kiệt và tại các khu vực tiếp nhận nước thải đô thị trực tiếp. Công trình đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quy hoạch, quản lý và truyền thông có cơ sở khoa học, đóng góp tài liệu phục vụ công tác kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ lưu vực sông.