Đặt vấn đề Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, quyết định sự thành công trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt. Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước. Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó có 13 hệ thống sông lớn có diện tích trên 10.
Tài nguyên nước mặt nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới. Đây là nguồn tài nguyên quý giá, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nguồn nước mặt ở Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó đáng quan ngại nhất là tình trạng suy kiệt và ô nhiễm trên diện rộng. Thành phố Hà Nội là một thành phố phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, du lịch, thương mại và dịch vụ.
Nhu cầu sử dụng nước của người dân càng ngày càng tăng, trong khi chất lượng nguồn nước tại các lưu vực sông trong nội thành Hà Nội đang ngày càng giảm sút nghiêm trọng. Chất lượng nước của các lưu vực sông cũng đã và đang thay đổi theo từng năm. Đặc biệt là chất lượng nước các sông thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Một số đoạn sông chảy qua các khu công nghiệp, làng nghề, khu khai thác chế biến.thuộc địa bàn Hà Nội, Nam Định đều có mức độ ô nhiễm vượt gấp nhiều lần so với quy chuẩn cho phép, có nơi ô nhiễm lên tới mức báo động.
Xuất phát từ nhu cầu sử dụng nước của người dân và sự thay đổi về chất lượng nước tại các lưu vực sông ở Việt Nam nói chung và địa bàn Hà Nội nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu trường Đai Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Đặng Văn Minh - giảng viên khoa Môi trường, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. n 2 Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Diễn biến một số chỉ tiêu chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000 – 2013” 1. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát - Hiện trạng và diễn biến một số chỉ tiêu chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy giai đoạn 2000 – 2013. - Đề xuất các biện pháp về quản lý và kỹ thuật để nâng cao chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy nói chung và đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội nói riêng. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu hiện trạng chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000 – 2013 - Diễn biến một số chỉ tiêu chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000 – 2013.
- Sự thay đổi của một số chỉ tiêu chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000 – 2013. - Đề xuất các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, bảo vệ và nâng cao chất lượng nguồn nước. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đúng thực trạng môi trường nước sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội. - Số liệu cần được phản ánh một cách trung thực, khách quan.
- Lấy kết quả quan trắc môi trường định kỳ trong thời gian nghiên cứu để phân tích thông số, so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT. - Đảm bảo những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng và phát huy được các kiến thực đã được học tập vào nghiên cứu. n 3 - Nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
- Bổ sung tư liệu cho việc học tập sau này. Ý nghĩa trong thực tế - Đưa ra được những đánh giá chung nhất về thực trạng chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa bàn Thành phố Hà Nội. - Góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm kiểm soát, hạn chế các nguồn tác động gây ô nhiễm chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy. - Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lý luận của đề tài Khái niệm về môi trường Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó có con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người”. Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. Khái niệm về ô nhiễm môi trường Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “ Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường”.
Theo luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam: “ Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường”. Khái niệm về ô nhiễm nước Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho các vật nuôi và các loài hoang dã”. Ô nhiễm nước bao gồm ô nhiễm nước mặt và ô nhiễm nước ngầm: n 5 - Ô nhiễm nước mặt: là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo - Ô nhiễm nước ngầm là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật vi sinh vật gây hại kể cả xác chết của chúng. Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước. Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm người ta có thể phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. Vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng lo ngại nhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời gây lên.
Môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, các ô nhiễm từ đất, không khí đều có thể làm ô nhiễm nước ảnh hưởng tới con người và các sinh vật khác. Khái niệm quản lý môi trường “Quản lý môi trường là một hoạt động trong quản lý xã hội: có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kĩ năng điều phối thông tin, đối với các vần đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sự dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”. Tiêu chuẩn môi trường “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường” ( Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2005). Các thông số chính để đánh giá chất lượng nước sông Để đánh giá chất lượng nước trên bất cứ một con sông nào chúng ta cũng phải căn cứ vào các chỉ tiêu vật lý, hóa học và sinh học của nó các yếu tố đó bao gồm: Nhiệt độ, độ pH, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), độ ô xy hòa tan (DO), nhu cầu n 6 oxy hóa học (COD), nhu cầu ô xy sinh học (BOD), các hợp chất của ni tơ (NH4+, NO2-, NO3-), Fe, Coliform.
Các giá trị của những chỉ tiêu này được so sánh với tiêu chuẩn cho phép về giá trị giới hạn của nước mặt được quy định tại bộ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 08:2008/BTNMT). Cơ sở pháp lý của đề tài Một số văn bản pháp lý có liên quan đến môi trường và chất lượng nước - Luật tài nguyên nước năm 1998 có 10 chương 57 điều. Đây là sự thể hiện pháp chế đường lối , chủ trương và quan điểm của nhà nước về tài nguyên nước. - Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của chính phủ quy định việc thi hành tài nguyên nước.
- Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của chính phủ “Ban hành quy chế thu nhập,quản lý,khai thác,sử dụng dữ liệu,thông tin về tài nguyên nước.” - Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của chính phủ “Ban hành quy chế thu nhập,quản lý,khai thác,sử dụng dữ liệu,thông tin về tài nguyên nước.” - Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006. - Thông tư số 02/2005/tt – BTNMT ngày 24/06/2005 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường hướng dấn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/07/2004 của chính phủ “ Quy định việc cấp phép thăm dò ,khai thác , sử dụng tài nguyên nước , xả nước thải vào nguồn nước.” - Nghị định số 34/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.