chương I là phần giới thiệu đã nêu rõ sự cần thiết, mục tiêu, đối tượng của đề tài nghiên cứu. Ở chương 2 sẽ nêu ra nội dung về các lý thuyết được vận dụng trong quá trình nghiên cứu. Chương này sẽ làm sáng tỏ các khái niệm về đề tài nghiên cứu như nội dung của tháp nhu cầu Maslow, chất lượng dịch vụ và các mô hình áp dụng. Qua đó, còn trình bày các ý kiến, quan điểm của khách hàng sau khi trải nghiệm dịch vụ tại CGV.
Tháp Mashlow Nhà tâm lý học và nhân văn học tên là Abraham Maslow, ở thế kỷ trước đã trình bày lý thuyết về tháp nhu cầu. Nội dung này là một trong các nội dung quan trọng đối với ngành tâm lý học và quản trị kinh doanh. Lý thuyết này đã gây nên tiếng vang lớn sau khi được ăng tải với tính ứng dụng thực tiễn của nó trên nhiều lĩnh vực. Theo lý thuyết này, con người có các nhu cầu khác nhau và được chia thành các tầng bậc ứng với các mực độ khác nhau.
Bắt đầu ở tầng đầu tiên là nhu cầu cơ bản cho đến các tầng cao hơn, ứng với các mong muốn cao hơn. Theo tác giả, con người ưu tiên cho mình các nhu cầu cơ bản nhất như ăn uống, ngủ nghỉ và nhu cầu sinh lý,. Tiếp theo là nhu cầu được an toàn, được hòa nhập và được coi trọng,. Lý thuyết tháp nhu cầu đã chỉ ra ược nhu cầu cụ thể của con người.
Vì vậy nhóm nghiên cứu đã quyết định đưa tháp Maslow vào đề tài nghiên cứu vì nó là thước đo có khả năng cụ thể hóa nhu cầu của con người. 5 cấp bậc của Tháp nhu cầu Maslow: Nhu cầu sinh lý Nhu cầu an toàn Nhu cầu xã hội Nhu cầu ược coi trọng Nhu cầu ược bộc lộ bản thân 2. Chất lượng dịch vụ Việt Nam đã có nhiều bước tiến vượt bậc đối với nền kinh tế, như GDP đầu người tăng gấp 2,7 lần (năm 2018, theo The World Bank). Doanh nghệp Việt Nam cũng có 4 cái tên được đưa vào danh sách các công ty hàng đầu thế giới (theo Forbes 2019).
Tuy nhiên, do tác động của đại dịch Covid 19 lên nền kinh tế thế giới mà Việt Nam đã chịu 10 0 0 không ít ảnh hưởng. Có tới hàng nghìn doanh nghiệp báo lỗ, thậm chí là nộp đơn phá sản. Theo Thời báo Tài Chính Việt Nam: dịch vụ là nhóm ngành có tỷ lệ đóng cửa cao nhất trong tháng 6 năm 2020 do tác động của Covid. Cho tới nay cũng có rất nhiều khái niệm định nghĩa về chất lượng dịch vụ.
Theo Fitzsimmons: “Dịch vụ là một hoạt ộng vô hình và không tồn trữ được”. Philip Kotler và Gary Amstrong lại cho rằng, “chất lượng dịch vụ” là khả năng một công ty có thể cung cấp cho khách hàng. Trong đó, duy trì quan điểm thước đo tốt nhất của dịch vụ chính là khách hàng. Parasuraman et al.
1985 đưa ra một khái niệm: Khoảng cách giữa điều mà khách hàng mong đợi với nhận thức sau khi trải nghiệm dịch vụ chính là chất lượng dịch vụ. Từ những ý kiến được đưa ra bởi nhiều tác giả, nhóm nghiên cứu đúc kết ra được ý kiến như sau: Chất lượng dịch vụ là những gì mà một nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng với mục đích là áp ứng sự mong đợi và nhu cầu của họ. Khó có thể đo lường được chất lượng dịch vụ một cách hoàn chỉnh bởi tính vô hình của nó. Tuy nhiên, các công ty thường đo lường dựa vào vật chất hữu hình như hàng hóa, màu sắc, cảm nhận, đóng gói, sự phù hợp, phong cách (Journal of Marketing, Fall 1985).
Tuy nhiên, để đạt được mục ích lâu dài, trong tình huống không xác định dựa trên sản phẩm hữu hình, các chuyên gia đã tiến hành nhiều nghiên cứu và đưa ra nhiều kết luận trong khả năng đo lường. Thứ nhất, “Mô hình đánh giá chất lượng kỹ thuật hay chức năng của Gronroos (1984)”. Ông đã phát triển mô hình này bằng cách so sánh giữa dịch vụ mà khách hàng mong muốn với những gì mà khách hàng thực sự nhận được. Và theo ông, có ba tiêu chí dùng để đo lường: chất lượng thuộc công nghệ, kỹ thuật; những yếu tố có thể nhìn thấy được; và chất lượng thuộc các chức năng khác nhau.
Mô hình ánh giá chất lượng của Gronroos (Nguồn: Gronroos,1984)` Thứ hai: “Mô hình chất lượng dịch vụ tổng hợp của Brogowicz và cộng sự (1990)”. Có ba yếu tố trong mô hình nghiên cứu: hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt khách hàng, các yếu tố tác động từ bên ngoài và các hoạt động tiếp thị truyền thống. Theo ý kiến từ mô hình này thì khoảng cách từ chất lượng dịch vụ đến nhận thức của khách hàng có thể hiện hữu ngay khi khách hàng chưa thực sự trải nghiệm dịch vụ đó. Nhận định này của Brogowicz được chứng minh qua sự việc khách hàng được nghe giới thiệu từ người khác, hoặc xem quảng cáo hoặc tin tức từ các phương tiện truyền thông.
Vấn đề nghiên cứu từ mô hình này: Những nhân tố nào tác động đến sự khác biệt trong yếu tố truyền thông? Cách giảm thiểu khoảng cách này? (Hình 2. Mô hình chất lượng dịch vụ tổng hợp của Brogowicz 12 0 0 (Nguồn: Brogowicz et al.,1990) Một nghiên cứu khác được nhận xét là đột phá cho các nhà kinh doanh là “mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985)”. Mô hình này đưa ra kết luận rằng: Chất lượng dịch vụ là khoàng cách đi từ mong đợi của khách hàng đến quan điểm và cảm nhận của họ sau khi đã trải nghiệm dịch vụ. Vấn đề nghiên cứu mà Parasuraman cùng cộng sự đặt ra là: Cách thức để đo lường khoảng cách ở nhiều mức độ, thông qua việc sử dụng một công cụ tiêu chuẩn? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến những khoảng cách đó? Liệu có sự khác biệt giữa các khoảng cách ấy trong ngành công nghiệp hay không? Mô hình ược xây dựng bằng việc phân tích khoảng cách chất lượng dịch vụ.3) an (Nguồn: Parasuraman, 1985) • Khoảng cách 1: Khoảng cách giữa nhận thức của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ về mong đợi của khách hàng đối với mong muốn thực sự của họ.
• Khoảng cách 2: Khoảng cách giữa nhận thức của doanh nghiệp về mong đợi của khách hàng đối với các chuẩn mực ược đặt ra cho chất lượng dịch vụ. • Khoảng cách 3: Khoảng cách giữa chuẩn mực về dịch vụ đối với những dịch vụ thực sự được cung cấp cho khách hàng. 13 0 0 • Khoảng cách 4: Khoảng cách giữa chất lượng của dịch vụ thực sự được cung cấp và chất lượng dịch vụ được truyền tải thông qua các phương tiện khác tới khách hàng. • Khoảng cách 5: Khoảng cách giữa dịch vụ mà khách hàng thực sự nhận được so với mong đợi của họ.
Để có thể áp dụng mô hình trong thực tế, Parasuraman cùng cộng sự đã thiết kế một thang đo bao gồm 10 yếu tố giúp đo đếm chất lượng dịch vụ: 1. Sự tin cậy (reliability); 2. Cách thức tiếp cận (access); 5. Sự lịch thiệp (courtesy); 6.
Khả năng giao tiếp (communication); 7. Sự an toàn (security); 9. Hiểu biết của khách hàng (understanding customer); 10. Phương tiện hữu hình (tangibles).
Đến năm 1988, mô hình này được rút gọn để dễ dàng hơn cho các nhà kinh doanh, với 5 yếu tố: sự tin cậy, sự áp ứng, Tin cậy, năng lực đồng cảm và yếu tố hữu hình. Mối quan hệ giữa mô hình gốc và mô hình hiệu chỉnh T phục của n à úng thời h • Sự áp ứng (Responsiveness): Nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. • Tin cậy (Competence): Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khả năng phục vụ, biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp 14 0 0 thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng.
• Đồng cảm (Empathy): Nói lên khả năng cung cấp sự quan tâm, chăm sóc cá nhân cho khách hàng” Theo: Tạp chí Thư viện Việt Nam, 2014 (2),13-17 Mô hình Servqual công bố 21 câu hỏi giúp các nhà quản trị đang thực hiện nghiên cứu có thể đánh giá được dịch vụ mà mình cung cấp so với mong đợi của khách hàng. Bảng câu hỏi được thiết kế bởi Parasuraman yêu cầu câu trả lời từ những đáp viên đã từng sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp. Dựa vào những quan điểm trên, bài nghiên cứu có thể đưa ra quan điệm rằng. Mô hình đánh giá chất lượng kỹ thuật của Gronroos đã nêu khái quát được những yếu tố tác động đến nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ.
Đối với Brogowicz và cộng sự đã tìm ra được khía cạnh sâu đó là khoảng cách giữa việc chưa từng trải nghiệm của khách hàng và chất lượng dịch vụ. Parasuraman và cộng sự đóng góp trong việc phát triển một mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ mà được áp dụng rộng rãi cho đến nay. Bài nghiên cứu này thống nhất với quan điểm của các tác giả rằng chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa trên khoảng cách đi từ những gì mà khách hàng mong đợi cho đến những gì mà họ thực sự nhận được. Và khoảng cách ấy cũng hiện hữu ngay cả khi khách hàng chưa trải nghiệm dịch vụ.
Chính vì vậy, bài nghiên cứu sẽ sữ dụng thang đo SERVQUAL một cách hiệu chỉnh để có thể đưa ra kết luận một cách khách quan nhất. Sự hài lòng của khách hàng Theo Philip Kotler (2001), sự hài lòng của khách hàng là mức độ cảm giác của một người diễn ra từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ và những kỳ vọng của khách hàng. Nó cũng là cảm giác vui vẻ, thỏa mãn sau khi sự dụng và trải nghiệm sản phẩm hay dịch vụ. Theo đó, sự hài lòng của khách hàng có ba cấp độ.
Kèm theo đó, nghiên cứu của Zeithaml và Bitner (2000) đã ưa ra ý kiến về mối quan hệ giữa sự hài lòng và dịch vụ được cung cấp. Trong đó sự hài lòng của khách hàng chịu ảnh hưởng từ chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ, giá cả và các yếu tố tình huống khác cùng yếu tố cá nhân. Do đó để thể hiện tính khách quan hơn cho đề tài, bài nghiên cứu đã phân tích thêm yếu tố giá cả.