phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân xã Chƣơng 2: Địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân xã - tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3: Quan điểm, giải pháp đảm bảo địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân xã, từ thực tiễn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ 1. Khái niệm chung 1. Địa vị pháp lý Địa vị pháp lý là tổng thể về các quyền và nghĩa vụ của chủ thể pháp luật, chúng phản ánh về vị trí, vị thế tƣ cách pháp lý của chủ thể ấy trong các mối quan hệ pháp luật. Địa vị pháp lý (tƣ cách pháp lý) của một chủ thể đƣợc thể hiện ở vị trí, vai trò của một chủ thể trong quan hệ pháp luật và gắn liền theo nó là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý phát sinh, ràng buộc, xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, là căn cứ xem xét và xử lý những mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp pháp lý, là căn cứ để thực hiện quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của một tổ chức/cá nhân trong một mối quan hệ pháp luật xác định.
Để xác định và định nghĩa đƣợc địa vị pháp lý của HĐND xã, chúng ta tìm hiểu định nghĩa về “địa vị pháp lý”. Theo từ điển Tiếng việt của NXB Đà Nẵng 2008, “địa vị” có nghĩa là “vị trí trong quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị do vai trò, tác dụng mà có”[32, tr402]; “pháp lý” có nghĩa là “lý luận, nguyên lý về pháp luật” [32, tr 951]. Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật. Địa vị pháp lí của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể, qua đó xác lập cũng nhƣ giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình.
Thông qua địa vị pháp lí có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật. Hội đồng nhân dân xã Trong bộ máy nhà nƣớc ta hiện nay, cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền bốn cấp hoàn chỉnh: trung ƣơng, tỉnh, huyện, xã. Cấp chính quyền địa phƣơng ở cơ sở góp một vai trò quan trọng, là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng và nhà nƣớc, trực tiếp tổ chức thi hành đƣờng lối, chính sách của Đảng và nhà nƣớc, đảm bảo hiệu quả triển khai nghị quyết của Đảng và những quy định của nhà nƣớc tại địa phƣơng. Bộ máy nhà nƣớc ở Trung ƣơng muốn vững mạnh thì phải thƣờng xuyên củng cố và kiện toàn mỗi cấp chính quyền địa phƣơng.
Sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý Nhà nƣớc và cung cấp dịch vụ công phục vụ Nhân dân. Đó cũng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của Đảng và nhà nƣớc ta trong quá trình xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân ở nƣớc ta hiện nay. Theo Từ điển Tiếng việt năm 2008 của Nhà xuất bản Đà Nẵng đã định nghĩa Hội đồng nhân dân là “cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do Nhân dân bầu cử ra” [32, tr 572]. Ở Việt Nam, Hội đồng nhân dân xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1946, cùng với sự ra đời của Quốc hội khoá I.
Hội đồng nhân dân đƣợc cấu thành từ những đại biểu ƣu tú đại diện cho giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, các dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội. ở địa phƣơng đƣợc cử tri địa phƣơng tín nhiệm bầu ra theo các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm nếu không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân địa phƣơng. Hội đồng nhân dân đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân địa phƣơng.
Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phƣơng về kinh tế, văn hoá, xã hội.; bầu, miễn 10 nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân; giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng. Trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn hoạt động quản lý, HĐND xã có thể đƣợc nhận diện từ những khía cạnh khác nhau. Nhƣng về cơ bản, căn cứ vào nhận thức chung về HĐND đã đƣợc xác định trong Luật Tổ chức Chính quyền địa phƣơng năm 2015 cũng nhƣ căn cứ vào tính đặc thù của địa bàn cơ sở, có thể đƣa ra khái niệm HĐND xã nhƣ sau: Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, bao gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri trong xã trực tiếp bầu ra đại diện cho ý chí, nguyên vọng và quyền làm chủ của nhân dân toàn xã, có toàn quyền quyết định việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại địa phương theo quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân trong xã và cơ quan nhà nước cấp trên. Địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân xã Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [24, Điều 1].
Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trƣơng, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phƣơng, xây dựng và phát triển địa phƣơng về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân địa phƣơng, làm tròn nghĩa vụ của địa phƣơng đối với cả nƣớc. Điều 119 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi tại Điều 113, Hiến pháp năm 2013) tiếp tục khẳng định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của 11 Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [21, Điều 113]. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phƣơng do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phƣơng và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Điều 6 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định: „Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Qua phân tích các định nghĩa trên, có thể hiểu địa vị pháp lí của Hội đồng nhân dân xã là vị trí của cơ quan Hội đồng nhân dân trong hệ thống chính trị (trong mối quan hệ tổng thể với Đảng uỷ, UBND xã, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã, trong mối quan hệ với cấp trên), là các quyền và nghĩa vụ pháp lí của Hội đồng nhân dân xã. Đặc điểm, nội dung địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân xã 1. Đặc điểm * Tính quyền lực Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phƣơng bầu ra, chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân địa phƣơng và cơ quan nhà nƣớc cấp trên; đồng thời quyết định các vấn đề của địa phƣơng do luật định. Tính quyền lực của Hội đồng nhân dân đƣợc ghi trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính quyền địa phƣơng năm 2015.
Một mặt, Hội đồng nhân dân đƣợc nhân dân tín nhiệm bầu ra, là ngƣời đại diện cho ý chí, nguyện vọng, và quyền làm chủ của nhân dân địa phƣơng. Mặt khác, Hội đồng nhân dân bầu ra Uỷ ban nhân dân cùng cấp, và một số chức danh quan trọng khác tại địa 12 phƣơng. Hội đồng nhân dân ra nghị quyết buộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp, nhân dân địa phƣơng phải tuân hủ thực hiện. Nếu làm trái sẽ bị pháp luật nghiêm minh trừng trị.
* Tính hiến định HĐND xã đƣợc nhân dân địa phƣơng giao quyền thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nƣớc, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, những nhiệm vụ, quyền hạn do cấp trên giao. Hiến pháp 2013 quy định: “1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.” [25, Điều 113] Cụ thể hóa Hiến pháp 2013; Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng 2015 cũng quy định: “Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.” Nhƣ vậy, có thể thấy địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân đã đƣợc xác định rõ ràng và xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển của Nhà nƣớc CHXHCN Việt Nam từ năm 1945 đến nay, đƣợc quy định cụ thể trong các bản Hiến pháp của Việt Nam.
* Tính thống nhất Ở Việt Nam, cùng với sự ra đời của chính quyền Nhân dân, các tổ chức chính quyền dân chủ tại địa phƣơng đã đƣợc hình thành.