CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ QUỐC TẾ, KHU VỰC VÀ TÌNH HÌNH HAI NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ HÀN QUỐC – NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 1. Bối cảnh quốc tế và khu vực Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh lạnh đến những năm đầu thế kỷ XXI Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, cục diện Chiến tranh lạnh bắt đầu rạn vỡ sau gần nửa thế kỷ tồn tại. Đây là hệ quả tất yếu của cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô ròng rã hơn 20 năm. Sự kết thúc của trật tự thế giới Yalta do Mỹ và Liên Xô chi phối đã đưa đến biến đổi sâu sắc trong tình hình kinh tế - chính trị quốc tế trong những năm 1990.
Sự kết thúc này không chỉ là sự chấm dứt của một cuộc chạy đua vũ trang hay tranh luận về ý thức hệ giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, sự sụp đổ của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu báo hiệu cán cân quyền lực đã nghiêng hẳn về phía Mỹ. “Về thực chất, là khúc dạo đầu cho quá trình phân bổ lại cơ cấu sức mạnh ở cấp độ toàn cầu” (Trần Bách Hiếu, 2020, tr. Mỹ với vị thế là cường quốc còn lại trở thành “siêu cường đơn độc”, đứng trước thời cơ định hình sự thống trị trên toàn cầu bằng một đường lối đơn phương. Với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh, một trật tự thế giới mới bắt đầu manh nha trong lòng các cặp liên minh cũ.
Đó là thế giới “nhất siêu đa cường” mang đặc điểm “một hệ thống toàn cầu đơn nhất về thương mại và quan hệ tiền tệ” như dự báo của Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger từ đầu năm 1975. Cùng với sự đảo lộn về cơ cấu địa – chính trị tại nhiều khu vực, tình hình quốc tế từ sau Chiến tranh lạnh còn chứng kiến sự thay đổi đáng kể về nội dung và tính chất của quá trình giao lưu toàn cầu, trong đó xu thế phụ thuộc, hợp tác và thẩm thấu lẫn nhau về kinh tế trở thành nội dung chủ đạo. Cùng với sự đảo lộn về cơ cấu địa – chính trị tại nhiều khu vực, tình hình quốc tế từ sau Chiến tranh lạnh còn chứng kiến sự thay đổi đáng kể về nội dung và tính chất của quá trình giao lưu toàn cầu, trong đó xu thế phụ thuộc, hợp tác và thẩm thấu lẫn nhau về 16 kinh tế trở thành nội dung chủ đạo. Đặc điểm này đã lôi kéo hàng loạt quốc gia bước vào cuộc đua “bất khả kháng” về tài chính và công nghệ.
Khi những cân nhắc về địa – kinh tế vượt qua những toan tính về địa – chính trị, các nước mong muốn quy tụ trong một thị trường chung và tham gia vào xu thế toàn cầu hóa. Sự đan xen, chồng lấn giữa hai mặt hợp tác và cạnh tranh, cơ hội và thách thức đã bước đầu dự báo về một cục diện thế giới mới - an toàn hơn nhưng lại bất ổn và khó tiên đoán hơn. Mỹ ra sức điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại, tăng cường năng lực cạnh tranh, xây dựng trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo, làm cho sự thay đổi của thế giới đi theo quỹ đạo có lợi cho Mỹ. Hơn nữa, thắng lợi trước Liên Xô còn được xem là thắng lợi của chiến lược diễn biến hòa bình, vì vậy Hoa Kỳ tận dụng thời cơ ra sức đẩy mạnh chiến lược với các nước xã hội chủ nghĩa khác, kết hợp trừng phạt kinh tế cùng lôi kéo kinh tế, can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, gán quan niệm giá trị và mô hình kinh tế chính trị cho họ một cách công khai (Lý Thực Cốc,1996, tr.
Đến mức, vị thế siêu cường và ảnh hưởng của Hoa Kỳ trở thành một đặc trưng căn bản của cục diện thế giới hậu Chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, đấu tranh giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô trong thời gian dài đưa đến hậu quả sâu sắc, khiến Mỹ cùng nhiều nước khác vấp phải mâu thuẫn khó khăn và khủng hoảng nghiêm trọng. “Sự sụp đổ của hệ thống ấy (trật tự lưỡng cực) đã đẩy các quốc gia vào tình thế phải đánh giá lại đường lối phát triển và vị thế quốc tế mới của mình” trong bối cảnh “các cấu trúc cơ bản của trạng thái cân bằng mới - mà thực chất là một hệ thống quan hệ quốc tế mới” đang hình thành (Trần Bách Hiếu, 2020, tr. Ý thức độc lập, tự chủ, tự cường quốc gia và khu vực trỗi dậy.
Các quốc gia không còn dễ dàng bị chi phối bởi cuộc chiến ý thức hệ như thời Chiến tranh lạnh nữa mà trở thành những chủ thể độc lập hoạt động vì lợi ích riêng. Các nước và thế lực lớn vừa xây dựng lực lượng, vừa thử nghiệm, tìm tòi về tham vọng và tầm với của bản thân cũng như của các thế lực khác (Trần Nam Tiến, 2008, tr. Họ đều ra sức ganh đua, vươn lên theo kịp với các đối thủ nhằm thiết lập trật tự quốc tế mới phát huy vai trò và giành quyền chủ động để tạo nên một kỷ nguyên mới có lợi cho mình (Lý Thực Cốc, 1996, tr. Mặt khác, các cuộc chạy đua vũ trang vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức.
Chính những diễn biến đa chiều của tình hình thế giới cộng 17 với sự xuất hiện nền kinh tế tri thức trong lòng cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tác động mạnh mẽ, toàn diện đến đời sống quan hệ quốc tế đương đại. Bối cảnh này đòi hỏi các nước phải tích cực điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trước xu thế phát triển và hội nhập tất yếu của lịch sử. Cục diện thế giới đã không còn thuận lợi cho một siêu cường áp đặt bá quyền mà chuyển dịch theo xu hướng đa cực, đa trung tâm dựa trên cơ sở chính trị - kinh tế chứ không phải là đối đầu quân sự như trước. Cuộc khủng hoảng kép trong giai đoạn này, tức khủng hoảng kinh tế chu kỳ đi đôi với khủng hoảng cơ cấu, làm cho các nước tư bản, nhất là Mỹ gặp khó khăn sâu sắc cũng không thể ngăn cản mâu thuẫn giữa ba trung tâm chủ nghĩa tư bản quốc tế diễn ra phức tạp và gay gắt, nhất là về vấn đề thương mại.
Tây Âu và Nhật Bản vừa là đối tác, vừa là đối thủ có lực lượng hùng mạnh về kinh tế, trực tiếp cạnh tranh ảnh hưởng với Hoa Kỳ. Sự xuất hiện của Liên minh châu Âu EU trong đó Pháp và Đức đóng vai trò quan trọng, cùng Tổ chức Diễn đàn Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) trong đó Washington và Tokyo giữ vai trò hàng đầu, đồng thời với sự ra đời của Khối Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) do Mỹ chi phối với tư cách là ba loại thị trường chung và mậu dịch tự do có sức mạnh kinh tế gần tương đương nhau. Trong một hế giới đa cực nhiều trung tâm, họ vừa hợp tác vừa cạnh tranh quyết liệt, kiềm chế, cạnh tranh quyết liệt với nhau. Sự phân tán và phi tập trung quyền lực hậu Yalta đưa đến nguy cơ bùng nổ bất ổn trong hệ thống thế giới.
Quan hệ quốc tế giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh trở nên khó dự báo, thất thường và tình trạng phát triển không đều giữa các quốc gia. Thế cân bằng chiến lược sụp đổ ở nhiều nơi, làm xuất hiện nhiều khoảng trống quyền lực trên thế giới và tạo điều kiện cho các cường quốc khu vực thi hành chủ nghĩa bá quyền, bành trướng lợi ích trong một thời kỳ hỗn loạn tương đối của quan hệ quốc tế. Trong đó, viễn cảnh phổ biến vũ khí hủy diệt, chạy đua vũ trang hạt nhân đe dọa trầm trọng đến hòa bình và an ninh thế giới. Các vấn đề toàn cầu như khủng bố, ma túy, buôn người, bệnh dịch, hủy hoại môi trường, bùng nổ dân số dân số, dòng người tị nạn, khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, phân phối thặng dư lao động chưa hợp lý… đặt ra khái niệm mới về an ninh, đe dọa phá vỡ ổn định chính trị - xã hội nhiều nước và khu vực.
18 Tuy nhiên, thế giới hậu Chiến tranh lạnh không phải là một bức tranh quá ảm đạm như thế. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội nhiều quốc gia. Nền kinh tế thế giới trải qua quá trình chuyển đối cơ cấu dưới tác động của các mạng khoa học và công nghệ hiện đại, các kỹ thuật mũi nhọn mới ra đời đem lại năng suất cao gấp nhiều lần trước đây, giúp lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt, nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa chuyển dần sang cơ sở công nghệ mới, tiến hành cách mạng hóa sâu sắc cơ sở vật chất và kỹ thuật của nền sản xuất, từng bước hình thành một nền sản xuất mới về nguyên tắc có đặc điểm nổi bật là tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, sức lực, trí tuệ, đề cao con người và hiệu quả, tôn trọng sáng tạo của người lao động vì lợi ích của sản xuất phát triển và thu lợi nhuận tối đa. Tri thức trở thành yếu tố quan trọng bên trong lực lượng sản xuất và quyết định xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới.
Xu thế chung là phát triển công nghệ cao, được xem như động lực phát triển của quá trình hiện đại hóa và địa vị chiến lược của đất nước, nâng cao năng lực và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế (Hoàng Văn Hiển, 1998, tr. Kinh tế tri thức đưa kinh tế toàn cầu vào nền văn minh thông tin một cách vượt bậc. Trong nền kinh tế thế giới, các liên kết giữa các quốc gia trong khu vực và toàn cầu không ngừng được tăng cường và mở rộng để đáp ứng với trình độ xã hội hóa cao độ và xu hướng quốc tế hóa nền sản xuất vật chất và xã hội. Quá trình giao lưu, thâm nhập kinh tế qua lại giữa các quốc gia ngày càng chặt chẽ và hầu như không bị cản trở bởi các ranh giới quốc gia khác (Trần Nam Tiến, 2008, tr.
Xu hướng nhất thể hóa kinh tế khu vực và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tính phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, an ninh truyền thống và phi truyền thống tăng rõ rệt, thúc đẩy các dân tộc tăng cường sự hợp tác để cùng tồn tại và phát triển. Nền kinh tế lớn nhất thế giới như Hoa Kỳ cũng phải phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của các quốc gia khác và ngược lại.