Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN KHẢO CỔ HỌC 1. Khái niệm Di sản văn hóa và các loại hình di sản văn hóa Theo từ điển thông dụng, Di sản (Heritage) là khái niệm dùng để chỉ “những tài sản do người chết để lại” (ví dụ: di sản thừa kế), hoặc “tài sản tinh thần hoặc tài sản vật chất do lịch sử để lại hoặc do thiên nhiên tạo ra” (ví dụ: di sản văn hóa, di sản thiên nhiên, di sản phi vật thể, di sản vật thể. Như vậy, di sản nói chung được xem là những sản phẩm của quá khứ nhưng theo các nhà nghiên cứu văn hóa thì không phải sản phẩm nào trong quá khứ cũng được xem là di sản. Bởi di sản phải qua một quá trình chọn lọc từ quá khứ, với 03 yếu tố then chốt là lịch sử, ký ức và báu vật, trong đó, lịch sử là sự ghi lại những khía cạnh được lựa chọn của quá khứ, ký ức là những lưu giữ quá khứ của cá nhân và cộng đồng dưới hình thức văn hóa dân gian, còn báu vật là những hiện vật của quá khứ tồn tại trong xã hội hiện tại, như các đồ tạo tác, tác phẩm nghệ thuật, công trình kiến trúc.18] Theo Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) thì di sản được chia thành ba loại chính: di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản hỗn hợp, trong đó: Di sản thiên nhiên là các đặc điểm tự nhiên có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học (bao gồm các hoạt động kiến tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo); hoặc là các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn.
Di sản văn hóa là các di tích (Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở 9 trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học); các quần thể các công trình xây dựng (Các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.); các di chỉ (Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.3] Năm 2003, cùng với sự ra đời của Công ước về Di sản văn hóa phi vật thể, khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể ra đời bổ sung cho khái niệm Di sản văn hóa của Công ước Di sản văn hóa và thiên nhiên năm 1972và “được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”.3] Di sản hỗn hợp (di sản văn hóa và thiên nhiên hỗn hợp) hay cảnh quan văn hóa, là khái niệm được ủy ban di sản thế giới (UNESCO) đưa ra vào năm 1992, là một loại di sản kép, đáp ứng đủ cả 2 yếu tố nổi bật về văn hóa và thiên nhiên. Một địa danh được công nhận là di sản thế giới hỗn hợp phải thỏa mãn ít nhất là một tiêu chí về di sản văn hóa và một tiêu chí về di sản thiên nhiên.4] Ngoài ra, theo một số tài liệu khác, còn tồn tại các khái niệm như “di sản cộng đồng” hay “di sản tư liệu”. Theo đó, Di sản cộng đồng là là tập hợp các giá trị và tín ngưỡng, tri thức và thực tiễn, kỹ thuật và kỹ năng, công cụ và hiện vật, tính 10 tiêu biểu và địa điểm, đất đai và địa hạt, cũng như các loại biểu thị vật thể và phi vật thể chung của người dân.
Thông qua chúng người dân biểu thị lối sống của mình và tổ chức xã hội, bản sắc văn hoá và mối quan hệ của họ với thiên nhiên [65] còn Di sản tư liệu, theo Wikipedia, là các di sản văn hóa thuộc dạng tư liệu gồm ảnh, mộc bản, bia, tài liệu ghi chép, băng đĩa. Tại Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)1, Di sản văn hoá (bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể) là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Trong đó: - Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. - Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
[45] Tuy nhiên, sự phân loại giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể này chỉ mang tính tương đối. Bởi di sản vật thể và di sản phi vật thể luôn gắn kết với nhau và trở thành những thực thể sống. Ví dụ: đồ gốm là văn hóa vật thể, nhưng chứa đựng những văn hóa phi vật thể như: kỹ năng chế tác, cách nung, các món ăn truyền thống.; đình chùa là di sản văn hóa vật thể nhưng lại cũng chính là nơi thực hành các nghi lễ, tín ngưỡng, tập tục. 1Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001 của Quốc hội khóa X, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2002, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 32/2009/QH12 ngày 18/06/2009, được hợp nhất thành Luật di sản văn hóa theo Văn bản hợp nhất số: 10/VBHN-VPQH của Văn phòng Quốc hội ban hành ngày 23/07/2013 11 Ngày nay, người ta thường hay nhầm lẫn việc cho rằng di sản phải là những di tích đã được xếp hạng hay những di sản thế giới được UNESCO công nhận mà quên đi mất nội hàm cốt lõi của danh từ “di sản”.
Trên thực tế, nếu tiếp cận theo quan niệm di sản thì di sản không hề xa lạ, phải đi xa mới thấy, khó có thể tìm tới, mà nằm ngay xung quanh chúng ta và ở đâu cũng có. Bởi xét cho cùng, di sản là những tài sản vật chất và phi vật chất được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chỗ nào có cộng đồng dân cư thì ở đó có di sản, vì di sản nảy sinh và phát triển từ chính cuộc sống và văn hóa của cộng đồng. Đó có thể là những ngôi làng, miếu thờ, hang đá; cũng có thể chính là những nghệ nhân, già làng nắm giữ các tri thức dân gian về thời tiết, ẩm thực, sản xuất, nghề thủ công, phong tục tập quán hay những nhân chứng lịch sử và ký ức của họ.
Khái niệm Di sản khảo cổ học Khái niệm “di sản khảo cổ học” được sử dụng lần đầu tiên là “archaeological property” trong Hiến chương Athens về Trùng tu di tích lịch sử (1931), sau đó tiếp tục được sử dụng trong Khuyến nghị của UNESCO về các nguyên tắc quốc tế áp dụng cho khai quật khảo cổ (1956)2 là “archaeological heritage”. Phải đến năm 1990, với sự ra đời của Hiến chương về Bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học (gọi tắt là Hiến chương Lausanne 1990), khái niệm “di sản khảo cổ học” (archaeological heritage) mới chính thức được sử dụng phổ biến và rộng rãi. Tuy nhiên, những nội hàm của khái niệm “di sản khảo cổ học” là “các di tích, di chỉ” (monuments, sites) vẫn thường xuyên được nhắc đến và nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng quốc tế trong Hiến chương Venice về Bảo toàn và trùng tu di tích và di chỉ (1965), Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972, Hiến chương Burra. Trong Điều 1 của Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO, di sản khảo cổ học được đề cập đến như là một phần của “di sản văn hóa” như sau: “Các di tích: các công trình kiến trúc, các công trình điêu khác và hội họa, các yếu tốc hoặc cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các dấu khắc, 2 Còn gọi là Khuyến nghị New Delhi 1956 12 nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm, có Giá trị Nổi bật Toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học;” “Các di chỉ: các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, và các khu vực gồm có các di chỉ khảo cổ có Giá trị Nổi bật Toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hay nhân học.5] Theo Hiến chương Lausanne 1990, “Di sản khảo cổ học là bộ phận di sản vật chất mà các phương pháp khảo cổ học cung cấp cho chúng ta những hiểu biết cơ bản về nó.