CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm lưu vực sông Có nhiều khái niệm khác nhau về lưu vực sông: - Phần diện tích mặt đất giới hạn bởi đường phân thủy, trên đó nước chảy vào một con sông hay một hệ thống sông nào đó gọi là lưu vực.
Phần diện tích từ đó nước mặt và nước ngầm tập trung vào một hệ thống được gọi là diện tích tập trung nước của hệ thống sông. - Lưu vực sông là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông (Luật Tài nguyên nước năm 1998). - Phần mặt đất bao gồm tất cả những vật tự nhiên và nhân tạo có trên đó và cung cấp nguồn nước nuôi dưỡng cho hệ thống sông hay một con sông riêng biệt gọi là lưu vực của hệ thống sông hoặc là lưu vực sông. Lưu vực của mỗi con sông bao gồm phần thu nước bề mặt và phần thu nước ngầm.
Phần thu nước mặt là phần diện tích bề mặt trái đất mà từ đó tất cả lượng nước sinh ra gia nhập vào hệ thống sông hoặc một con sông riêng biệt. Phần thu nước ngầm được tạo nên bởi tầng đất đá mà từ đó nước ngầm chảy vào lưới sông. - Một lưu vực sông là diện tích đất được giới hạn bởi đường phân thủy mà trên đó tất cả nước sẽ tập trung chảy ra một cửa duy nhất. Lưu vực sông cũng được gọi là diện tích lưu vực.
Các cạnh của một lưu vực sông được gọi là đầu nguồn, ở phía bên kia đường phân thủy, sẽ có một lưu vực sông khác. Trồng rừng trên đất ngập nước Đất ngập nước ở Việt Nam rất đa dạng, gồm 39 kiểu, bao gồm đất ngập nước tự nhiên, đất ngập nước nhân tạo, đất ngập nước ven biển, đất ngập nước nội địa … (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 2001). Phân bố ở hầu hết các vùng sinh thái của nước ta, gắn bó lâu đời với cộng đồng dân cư, có vai trò lớn đối với đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 1/5 dân số Việt Nam sinh sống ở vùng đất ngập nước và phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên đất ngập nước.
Đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với đời sống của cộng đồng dân cư. Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thủy vực nước ngọt nội địa (Dugan, 1990). Đất ngập nước còn là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài động vật và thực vật, trong đó có nhiều loài quí hiếm. Định nghĩa về đất ngập nước của Công ước RAMSAR: Đất ngập nước là: "Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 vùng nước ven biển có độ sâu không quá 6 m khi thuỷ triều thấp đều là các vùng đất ngập nước" (Điều 1.
Công ước Ramsar, 1971). Ở Việt Nam, Đất ngập nước rất đa dạng với diện tích xấp xỉ 5.000 ha, chiếm khoảng 8% toàn bộ các vùng Đất ngập nước của Châu Á (Lê Diên Dực, 1989a, 1989b; Scott, 1989). Trong đó Đất ngập nước nước ngọt chiếm khoảng 10% diện tích của các vùng Đất ngập nước toàn quốc. Trong số các vùng Đất ngập nước của Việt Nam thì 68 vùng (khoảng 341.833 ha) là có tầm quan trọng về đa dạng sinh học và môi trường thuộc nhiều loại hình Đất ngập nước khác nhau, phân bố khắp trong cả nước (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2001).
Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, Đất ngập nước đang bị giảm diện tích và suy thoái ở mức độ nghiêm trọng. Đất ngập nước ngọt - Phân loại về đất ngập nước ngọt trên thế giới theo các nhà khoa học Mỹ có 2 nhóm chính: + Các vùng đất ngập nước ngọt nội địa: Những lưu vực, đồng bằng ngập lụt theo mùa Đồng cỏ nước ngọt Bãi lầy nước ngọt nông Bãi lầy nước ngọt sâu Nước ngọt trống trải (nước có độ sâu dưới 2m) Đầm lầy cây bụi Đầm lầy rừng cây gỗ Bãi lầy + Các vùng nước ngọt ven biển Đầm lầy nước ngọt nông Đầm lầy nước ngọt sâu Nước ngọt trống trải (những phần nông của nước trống trải dọc theo các con sông nước ngọt, thủy triều và các eo biển). Cách phân loại này được phổ biến rộng ở Mỹ cho đến năm 1979. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 - Theo tổ chức Westland thì đất ngập nước ngọt được phân loại như sau: + Đầm lầy cỏ (Marshes) + Bãi lầy (Bogs) + Đầm lầy (Swamps).
Đất bán ngập nước: Do đặc điểm khí hậu nước ta nhiệt đới gió mùa, chế độ thuỷ văn hình thành hai mùa rõ rệt nên mực nước ở các hồ lên xuống cũng theo mùa. Ngoài ra, nó cũng bị ảnh hưởng do tưới tiêu cho nông nghiệp. Mực nước lên xuống ở các hồ đã làm cho một vùng đất bị ngập theo mùa, gọi là đất bán ngập. Như vậy đất bán ngập là diện tích đất có ranh giới nằm giữa mực nước cao nhất (mùa mưa) và mực nước thấp nhất (mùa khô).
Thực tế cho thấy, việc gây trồng rừng tại vùng đất bán ngập là rất cần thiết để đưa vùng bán ngập vào quản lý, tăng cường việc phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn và sử dụng, khai thác lợi ích của hồ có liên quan đến rừng, bảo vệ hồ chứa nước, đảm bảo an toàn sinh thái, phát triển kinh tế - xã hội vùng ven các hồ. Trong điều kiện tự nhiên chung của cả nước, Quảng Nam là tỉnh có diện tích đất ngập nước khá lớn, phân bố rộng khắp từ vùng đồng bằng ven biển lên đến miền núi. Ở vùng đồng bằng và cửa sông, ven biển, đất ngập nước của Quảng Nam khá phong phú về loại hình. Dọc theo bờ biển, dòng Trường Giang kéo dài từ Đà Nẵng vào tận huyện Núi Thành - Quảng Nam dài gần 70 km.
Ngoài ra, Quảng Nam còn có các con sông lớn như Vu Gia, Thu Bồn, sông Tranh, A Vương, cùng nhiều con sông nhỏ chằng chịt từ vùng rừng núi phía tây đổ xuống; nhiều kênh, suối, đầm, hồ; các ô ruộng trũng rải rác kéo dài từ huyện Điện Bàn vào đến Núi Thành, ngập nước theo mùa, những khu vực này cũng cung cấp một lượng cá, tôm. dồi dào cho nhân dân địa phương. Trồng rừng trên đất cát Đất cát là hệ sinh thái phổ biến trên thế giới. Theo Mc Harg (1972), các dải đất cát ven biển là một dạng công trình thiên nhiên có tác dụng hấp thu năng lượng từ gió, thuỷ triều và sóng, qua đó bảo vệ các vùng đất phía trong.
Các vùng đất cát ven biển tại các châu lục khác nhau, tuy cách xa về mặt địa lý nhưng đều được xếp vào cùng một dạng hệ sinh thái đặc thù do có chung một số đặc điểm như: kết cấu rời rạc, độ phì thấp, khả năng trữ nước và chất dinh dưỡng kém, thảm thực vật chủ yếu là các loại cây bụi có khả năng chống chọi lại các điều kiện khắc nghiệt (Moreno-Casasola, 1982). Thực tế ở tất cả các quốc gia có đường bờ biển trên thế giới đều có hệ sinh thái vùng cát, các bãi cát và cồn cát ven biển là vùng đệm an toàn giữa biển và đất liền và rất dễ bị tổn thương do hoạt động của con người cũng như do thay đổi chế độ động lực biển và khí hậu. Mỗi một vùng biển có thể có nhiều thế hệ đất cát xuất hiện vào các thời kỳ địa chất khác nhau có mầu sắc khác nhau: đất cát đỏ (là loại cát cổ nhất), cồn Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 cát vàng nghệ, cồn cát trắng và cồn cát vàng xám. Trong rất nhiều năm qua, hệ sinh thái vùng cát ven biển không chỉ là bức trường thành bảo vệ bờ biển tại những vùng đất thấp, chúng còn là một hệ sinh thái duy nhất dọc bờ biển.
Tuy nhiên đất cát ven biển được xem là loại đất có nhiều vấn đề nhất vì rất dễ bị thoái hoá. Tại những vùng đất cát bị thoái hoá, hiện tượng cát bay, cát nhảy thường xuyên xảy ra gây nhiều hậu quả nghiêm trọng dẫn đến hiện tượng sa mạc hóa làm mất đất ở và đất canh tác, phá huỷ các công trình xây dựng Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thoái hoá là do tác động của khí hậu và của con người, đặc biệt là các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp không bền vững, gây ô nhiễm môi trường đã và đang làm phá vỡ hệ sinh thái tự nhiên của nhiều vùng đất cát trên thế giới. Về sự hình thành: Đất cát là loại đất rất trẻ (từ kỷ đệ tứ đến hiện đại). Nó là sản phẩm của hai quá trình chính: Quá trình vận động nâng lên của thềm biển cũ và quá trình bồi tụ tạo lập đồng bằng của hệ thống sông ở miền Trung và hoạt động địa chất của biển.
Do hệ thống các con sông miền Trung ngắn, độ dốc lớn, nên vận tốc dòng chảy lớn, khiến sản phẩm tích tụ được thường thô, chủ yếu là cát các loại. Mặt khác, các sông suối lại bắt nguồn từ các khu vực có cấu tạo bởi các loại đá mẹ khó phong hóa như granit, riolit, cát kết nên các sản phẩm phong hóa trong nước sông cũng rất thô. Ở Việt Nam: Theo NIAPP (2003), nhóm đất cát biển có tổng diện tích hơn 442.570 ha, có mặt trên 120 huyện, 28 tỉnh, chiếm khoảng 1,61% diện tích tự nhiên của cả nước. Phần lớn diện tích đất cát tập trung thành một dải chạy dọc bờ biển miền trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận và rải rác một số ít vùng ven biển Bắc bộ và Nam bộ.
Trước đây ta vẫn dùng đất cát biển vì chủ yếu phân bố ven biển, nhưng cũng có một số đất cát phân bố ven một số sông lớn hoặc ở một số vùng đất phát triển tại chỗ trên đá mẹ sa thạch hoặc granit. Với diện tích lớn như vậy nhưng việc canh tác lâm nghiệp còn khá nhiều bất cập. Một trong những bất cập lớn nhất là chưa xác định được loài cây trồng chính trong vùng và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp. Trong những năm gần đây công tác trồng rừng trên cát đã và đang được nhiều cơ quan chức năng quan tâm đầu tư, diện tích rừng đã tăng đáng kể.