CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ XANH 1. Tổng quan về kinh tế xanh 1.1 Khái niệm kinh tế xanh Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với nhiều cuộc khủng hoảng như: Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 – 2009; khủng hoảng về khí hậu và đa dạng sinh học, tình trạng thiếu nước sạch, gia tăng phát thải gây hiệu ứng nhà kính và mất cân bằng sinh thái, khủng hoảng nhiên liệu với cú sốc giá nhiên liệu năm 2007 – 2008; khủng hoảng lương thực với giá lương thực thực phẩm tăng cao và tình trạng thiếu lương thực tại một số khu vực, năm 2008, chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đề xuất ý tưởng kinh tế xanh, hay còn được gọi với tên quốc tế là Green economy (GE). Ngày môi trường thế giới 5/6/2012 với chủ đề “Kinh tế xanh: Có vai trò của bạn”, kinh tế xanh được coi như bước phát triển mới của thế kỷ 21 với nền kinh tế phát triển bền vững, ít carbon và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Theo bài viết: “ECO Canada Labour Market research, Defining the Green Economy” (tạm dịch “Nghiên cứu thị trường lao động Canada ECO, xác định nền kinh tế xanh” trên ECO Canada định nghĩa “Kinh tế xanh là tổng hợp các hoạt động với mục đích chính là giảm thiểu các hoạt động tiêu thụ tài nguyên, khí thải độc hại và giảm thiểu tối đa các tác động tới môi trường.
Kinh tế xanh tập trung vào các yếu tố đầu vào, các hoạt động, kết quả đầu ra trong quá trình sản xuất các sản phẩm, dịch vụ xanh”. Karen Chapple (2008), “Defining the Green Economy: A Primer on Green Economic Development” (tạm dịch “Xác định nền kinh tế xanh: Nền tảng cho sự phát triển kinh tế xanh”), có định nghĩa kinh tế xanh như sau: “Kinh tế xanh là một nền kinh tế năng lượng sạch, bao gồm 4 lĩnh vực chủ yếu là năng lượng tái tạo, công trình xanh và công nghệ hiệu quả về năng lượng; cơ sở hạ tầng và giao thông hiệu quả về năng lượng, tái chế và biến chất thải thành năng lượng”. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) định nghĩa “kinh tế xanh” (Green Economy) “là một nền kinh tế hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống của con người và tài sản xã hội, đồng thời chú trọng giảm thiểu những hiểm họa môi trường và sự khan hiếm tài nguyên”. Luan van 7 Khái niệm kinh tế xanh lần đầu tiên được UNEP đưa ra đề cập tới 3 trụ cột chính đó là kinh tế, xã hội và môi trường.
Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng kiêm tổng cục trưởng tổng cục môi trường tại hội nghị Liên hợp quốc về phát triển bền vững năm 2012: Tương lai mà chúng ta mong muốn từ ngày 13-22/6/2012, đã khẳng định phát triển kinh tế không còn là mục tiêu duy nhất mà đồng thời cần phải quan tâm đến ổn định xã hội, bảo vệ môi trường toàn cầu. Kinh tế xanh được hiểu như một hệ thống kinh tế đặc thù có sự tương hợp với tự nhiên, thân thiện với môi trường hệ sinh thái và toàn xã hội. Kinh tế xanh không chỉ tập trung vào khả năng sản xuất năng lượng sạch mà còn tập trung vào các loại công nghiệp hỗ trợ cho quá trình sản xuất sạch và phát triển thị trường sản xuất và tiêu dùng các loại sản phẩm, tiêu hao ít năng lượng. Do đó, có thể hiểu kinh tế xanh tập trung vào hai vấn đề chính đó là quá trình sản xuất sạch và quá trình thực hiện tiêu dùng xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiên với môi trường.
Khái niệm kinh tế xanh mà UNEP đưa ra tập trung vào 2 nội dung chính. Thứ nhất, nền kinh tế vĩ mô tập trung đầu tư vào sản xuất các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường (đầu tư xanh). Thứ hai, khuyến khích các nhà hoạch định chính sách hỗ trợ tăng cường đầu tư xanh. Kinh tế xanh như một kết quả của việc nâng cao đời sống con người, công bằng xã hội trong khi giảm thiểu đáng kể rủi ro về môi trường và khan hiếm tài nguyên thiên nhiên.
Có thể hiểu, kinh tế xanh là nền kinh tế ít carbon, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn đảm bảo phát triển và ổn định xã hội. Nói cách khác, mục đích khi các quốc gia chuyển đổi sang nền kinh tế xanh là cho phép tăng trưởng kinh tế và phát triển các nguồn đầu tư, trong khi đó chất lượng môi trường tự nhiên và xã hội vẫn được đảm bảo toàn diện. Trong nền kinh tế xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông qua đầu tư của nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế, làm giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái. Như vậy, khác với nền kinh tế truyền thống, phát triển kinh tế là trọng tâm của quá trình tăng trưởng, kinh tế xanh tập trung phát triển đồng thời 3 trụ Luan van 8 cột chính đó là phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường nhằm phát triển một cách toàn diện và bền vững cuộc sống con người, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa 3 trụ cột trên.
Có thể thấy rõ được sự khác nhau giữa nền kinh tế truyền thống và nên kinh tế xanh ở Hình 1.1: Ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi Hình 1.2: Ba yếu tố kinh tế, xã hội và trường trong nền kinh tế truyền thống môi trường trong nền kinh tế xanh Kinh tế xanh phải là nền kinh tế lấy con người làm trung tâm, trong đó chính sách tạo ra các nguồn lực mới về tăng trưởng kinh tế bền vững và bình đẳng. Theo phân tích của Huyền Minh năm 2012 trong bài viết “Hướng tới một nền Kinh tế Xanh: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam” trên báo Tạp chí Cộng sản đã viết: “Thúc đẩy nền kinh tế xanh và cải tổ quản lý môi trường là hai nhân tố căn bản bảo đảm tiến trình phát triển bền vững của mỗi quốc gia và trên phạm vi toàn cầu”. Sự đầu tư cho nền kinh tế xanh cũng cần chú ý tới nhóm người nghèo bởi sinh kế và an sinh của họ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai và sự biến đổi khí hậu. Một số yếu tố chính của kinh tế xanh đó là: phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo; sử dụng năng lượng hiệu quả; giảm thiểu và xử lý chất thải; bảo tồn và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên, tạo ra công việc ổn định; an toàn cho người dân.
Theo Green Economy Group, nền kinh tế xanh phải đảm bảo các đặc điểm sau: Thứ nhất, nền kinh tế có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tối thiểu lượng carbon xả ra môi trường; Thứ hai, hệ thống xử lý nguồn nước, chất thải và nước thải được xây dựng và vận hành dựa trên cơ sở bền vững lâu dài; Luan van 9 Thứ ba, duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái, rừng tự nhiên thông qua việc tạo ra các mô hình quản lý thị trường, các mô hình kinh doanh bền vững; Thứ tư, nền kinh tế phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu cấp địa phương, khu vực và toàn cầu. Thứ năm, Đảm bảo sự cân đối trong nguồn thu ngân sách để đầu tư hiệu quả cho các lĩnh vực bảo trợ xã hội, xoá đói giảm nghèo, đồng thời thúc đẩy tạo việc làm và các cơ hội cho người nghèo tham gia các lĩnh vực kinh tế. Về các khái niệm kinh tế xanh có nhiều định nghĩa, tựu trung các quan điểm, nhận thức thống nhất là: Kinh tế xanh cùng với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường là ba trụ cột của phát triển bền vững và là sự lựa chọn tốt nhất cho sự phát triển bền vững của các quốc gia. Kinh tế xanh là nền kinh tế thân thiện với môi trường, dựa vào năng lượng sạch, giảm phát thải khí nhà kính để giảm thiểu biến đổi khí hậu; là nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu, hao tổn ít nhiên liệu, đổi mới công nghệ, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái; hướng đến mục đích là tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng.2 Một số khái niệm liên quan đến kinh tế xanh 1.1 Khái niệm Tăng trưởng xanh (Green Growth) Khái niệm “kinh tế xanh” cho đến nay còn nhiều cách hiểu và cách gọi khác nhau.
Ngoài khái niệm “kinh tế xanh”, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển còn quan tâm hơn tới khái niệm “tăng trưởng xanh” do mục đích tăng trưởng luôn được đặt lên hàng đầu đối với các nền kinh tế này. Xét về mặt học thuật, Paul Ekins là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “tăng trưởng xanh” (green growth) vào năm 2000. Theo Paul Ekins, tăng trưởng xanh là tăng trưởng kinh tế bền vững về mặt môi trường, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo tồn các hệ sinh thái, đảm bảo sức khoẻ, phúc lợi và chất lượng cuộc sống. Năm 2005, Uỷ ban kinh tế xã hội Châu Á – Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP) đưa ra khái niệm tăng trưởng xanh như sau: tăng trưởng xanh là việc giảm đói nghèo thông qua tăng trưởng và bảo vệ môi trường, thông qua tăng cường hiệu quả sinh thái.
UNESCAP đã đưa ra nhiều biện pháp để thực hiện tăng trưởng Luan van 10 xanh như: cải cách thuế xanh, hình thành nguồn vốn xã hội thân thiện với môi trường, quản lý nguồn cung năng lượng, hình thành các thị trường xanh và các doanh nghiệp xanh. Năm 2009, Hội đồng bộ trưởng của OECD đã đưa ra tuyên bố tăng trưởng xanh (green growth declaration). Trong Tuyên bố này, tăng trưởng xanh được định nghĩa là: thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khi vẫn đảm bảo tính bền vững về các nguồn tài nguyên và các dịch vụ môi trường. Năm 2011, OECD cho rằng để đạt được tăng trưởng xanh cần phải giải quyết những thách thức về kinh tế và môi trường, khai thác các nguồn lực mới cho tăng trưởng thông qua các kênh như cải thiện năng suất lao động, phát huy sáng kiến, hình thành thị trường mới, tạo dựng một chính phủ có trách nhiệm để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, ổn định kinh tế vĩ mô.