MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường. Trong giai đoạn hiện tại khi nền kinh tế thế giới và khu vực luôn phải đối mặt với nhiều thách thức và những cuộc khủng hoảng kéo dài mang tính chu kỳ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Đặc biệt là trong thời kì dịch bệnh Covid-19 là một thời kỳ khó khăn đối với tất cả các doanh nghiệp. Để giữ vị trí trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải phấn đấu phát huy tất cả nội lực của mình, đẩy mạnh cải cách và tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới.
Để duy trì và tạo lập vị trí cạnh tranh trên thị trường doanh nghiệp nên sử dụng marketing vào hoạt động sản xuất kinh doanh, không chỉ đối với các doanh nghiệp thương mại mà còn đối với các doanh nghiệp giáo dục. Theo dữ liệu thống kê, hiện nay Việt Nam có hàng nghìn công ty, trung tâm Ngoại ngữ hoạt động trên địa bàn Hà Nội cùng các lớp học nhỏ lẻ hoạt động cá nhân khác. Số lượng của các đơn vị giảng dạy Ngoại Ngữ ở Việt Nam nhiều, nhưng chỉ số ít trong đó chuyên nghiệp, tâm huyết. Phần lớn các doanh nghiệp chưa thật sự chú trọng vào chất lượng giảng dạy cũng như cảm xúc khách hàng.
Chính vì vậy có rất nhiều doanh nghiệp đã thất bại và gặp nhiều trái đắng khi bị “phốt” tại các trang mạng xã hội. Là một trong những đơn vị giảng dạy Ngoại Ngữ tại khu vực Gia Lâm. Dự kiến giảng dạy nhiều ngôn ngữ như Tiếng Anh, Tiếng Trung, Tiếng Hàn, Tiếng Nhật. Tuy đã khẳng định được thương hiệu và chỗ đứng trong ngành nhưng công ty vẫn còn những tồn tại hạn chế chưa phát huy hết khả năng của mình.
Đặc biệt, công ty vẫn còn rất mờ nhạt đối với khách hàng trong khu vực 1 Gia Lâm, nhân sự chưa thật sự “mặn mà” với công việc. Công ty có nhiều chương trình xúc tiến, quảng cáo nhưng chưa gây được chú ý với khách hàng. Phát triển sản phẩm tốt nhưng chưa được nhiều người biết đến, chưa làm nổi bật lên được sản phẩm mang tính chiến lược. Đội ngũ nhân viên không ổn định, một số thành viên không tích cực trong công việc gây nên sự trì trệ, thiếu hiệu quả.
Thêm vào đó, vừa qua dịch bệnh đã hoành hành tại Việt Nam, điều này khiến cho việc kinh doanh của rất nhiều công ty dậm chân tại chỗ. Học viện Ngoại Ngữ Đại Nam cũng không ngoại lệ, cụ thể doanh thu của doanh nghiệp tụt giảm sâu. Phải đối mặt với sức ép chi phí tiền lương, chi phí quản lý, chi phí khấu hao tài sản và các chi phí phát sinh có liên quan khác. Hiện nay Ngoại Ngữ Đại Nam vẫn đang là một cái tên “mới mẻ” đối với khu vực Gia Lâm.
Ngoại Ngữ Đại Nam sẽ phải đối mặt với thách thức không nhỏ làm sao duy trì được khả năng cạnh tranh, mở rộng thị phần và tiếp tục phát triển hơn nữa. Để làm được điều này công ty phải thực hiện kinh doanh hướng theo nhu cầu của khách hàng và phải áp dụng các hoạt động marketing vào thực tiễn trên thị trường. Việc phát triển sản phẩm của Đại Nam được đánh giá là khá đa dạng khi có mục tiêu phát triển 4 ngôn ngữ, hiện nay trong khu vực chưa có đơn vị nào thực hiện giảng dạy từ 2 ngôn ngữ trở lên. Bên cạnh đó, công ty có mục tiêu từng khoá học rõ ràng, kế hoạch giảng dạy cũng như các quy trình tham gia lớp học được công khai minh bạch.
Chiến lược của định giá của công ty cao hơn so với mặt bằng chung, nhưng lại làm rất tốt khâu phục vụ, giảng dạy. Nhìn chung các yếu tố sản phẩm, giá, xúc tiến, phân phối của Đại Nam đều có chiến lược riêng. Nhưng Công ty CP Học viện Ngoại ngữ Đại Nam vẫn chưa có được sự quan tâm nhiều từ phía khách hàng. Qua đó, có thể nhận thấy việc xây dựng và hoàn thiện một chính sách marketing - mix với những chiến lược và biện pháp cụ thể là chưa đủ.
Ngoài tối đa lợi nhuận, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến sự phù hợp; mặc dù chiến lược này có thể tốt với doanh nghiệp này 2 nhưng chưa chắc đã tốt đối với doanh nghiệp khác. Nhận thức rõ tầm quan trọng này em đã lựa chọn nghiên cứu: “Hoạt động marketing - mix tại công ty CP Ngoại Ngữ Đại Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của công ty CP Ngoại Ngữ Đại Nam; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác này tại công ty trong thời gian tới .2 Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về marketing – mix. Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động marketing-mix của công ty Cổ phần Ngoại Ngữ Đại Nam. Đề xuất một số đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác này tại công ty trong thời gian tới.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Công ty Cổ phần Học Viện Ngoại Ngữ Đại Nam.2 Phạm vi nghiên cứu a.
Phạm vi nội dung Hoạt động marketing – mix tại công ty Cổ phần Học viện Ngoại Ngữ Đại Nam. Phạm vi về không gian Đề tài nghiên cứu tại công ty Cổ phần Học viện Ngoại Ngữ Đại Nam Địa chỉ số 12, ngõ 86, đường Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội. Phạm vi về thời gian Thời gian thực hiện đề tài từ 10/7/2022 - 10/12/2022 Số liệu phục vụ cho nghiên cứu được thu thập qua 3 năm từ 2019 - 2021 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về marketing Có nhiều cách định nghĩa marketing khác nhau. Marketing là quá trình tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra.
Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó. Chúng ta cũng có thể hiểu rằng marketing là các cơ chế kinh tế và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường.
Thuật ngữ marketing ra đời lần đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu thế kỷ XX. Nó được truyền bá sang Châu Âu, Châu Á rồi tới nước ta vào những năm 1980. Marketing được coi là một khoa học kinh tế, là một nghệ thuật kinh doanh. Nó không ngừng phát huy tác dụng và không ngừng được bổ sung và phát triển, do đó nó được các tác giả, các nhà khoa học đưa ra các định nghĩa khác nhau: - Định nghĩa của Học viện Hamilton: Marketing nghĩa là hoạt động kinh tế trong đó hàng hóa được đưa từ người sản xuất đến người tiêu thụ.
- Định nghĩa của Uỷ Ban hiệp hội Marketing Mỹ: Marketing là việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. 5 - Định nghĩa của Philip Kotler - Chủ tịch hiệp hội Marketing thế giới: Marketing là sự phân tích, tổ chức, kế hoạch hoá và kiểm tra những khả năng thu hút khách hàng của một công ty cũng như chính sách và hoạt động với hoạt động với quan điểm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của nhóm khách hàng đã lựa chọn. Hoạt động của marketing là một quá trình hoạt động được coi như phương tiện đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá. Hoạt động của marketing bắt đầu từ khi sản phẩm được sản xuất ra và kết thúc khi nó bán trực tiếp cho người tiêu dùng.
- Định nghĩa của V.Stanton: Marketing là một hệ thống tổng thể của những hoạt động kinh doanh được biểu hiện bằng kế hoạch, giá cả, khuyếch trương và phân phối những hàng hoá dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu mong muốn của khách hàng hiện tại và tiềm năng. - Định nghĩa của Peter Drucker – nhà kinh tế học cận đại Mỹ: Marketing là toàn bộ những công việc kinh doanh nhìn theo quan điểm của người tiêu thụ. Từ những định nghĩa nêu trên chúng ta thấy cách hiểu về marketing hết sức phong phú và đa dạng. Hai định nghĩa đầu phù hợp với marketing truyền thống còn các định nghĩa sau thì phù hợp với marketing hiện đại.
Mỗi định nghĩa chỉ đúng xét theo quan điểm về mặt thời gian, đúng tại thời điểm này nhưng có thể sai ở thời điểm khác. Do đó, cho đến nay người ta vẫn thống nhất là không nên và không cần thiết có một định nghĩa, một khuôn mẫu đối với hoạt động marketing. Việc làm đó có thể dẫn tới sự hạn chế tính đa dạng, phong phú và sinh động của hoạt động marketing trong thực tiễn.2 Khái niệm về marketing – mix Marketing – mix là sự tổ chức sắp xếp các thành phần liên quan sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của thị trường trong một thời gian và không gian nhất định. Marketing – mix là tập hợp các yếu tố biến động có thể kiểm soát được của marketing mà doanh nghiệp phối hợp, để tạo ra sự đáp ứng theo mong muốn của thị trường mục tiêu.
Biểu hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc vận dụng các công cụ của marketing hỗn hợp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để thích nghi với từng thị trường cụ thể. Marketing mix vốn được phân loại theo mô hình 4P bao gồm: Product (Sản phẩm), Price (Giá cả), Place (Phân phối), Promotion (Xúc tiến). Theo thời gian, mô hình này được phát triển hơn thành marketing 7P. Mô hình mới này sẽ giúp doanh nghiệp đẩy mạnh các chiến dịch marketing của mình.
Khi sản phẩm không chỉ dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà còn có các dịch vụ vô hình khác. Các chuyên gia đã đưa ra thêm 3P để bổ sung là: Process (Quy trình), People (Con người), Physical Evidence (Bằng chứng vật lý). Ngoài những mô hình 4P, 7P còn có mô hình marketing mix 4C được xây dựng và phát triển vào năm 1990 bởi Robert F. Mô hình 4C marketing mix giống như một phiên bản mở rộng của mô hình 4P và 7P.
Mô hình này gồm có 4 thành tố gồm: Customer (Khách hàng), Cost (Chi phí), Convenience (Sự thuận tiện), Communication (Giao tiếp). 7 Hình 1: Mối liên hệ giữa marketing mix 4P và 4C 2.