CHƯƠNG I1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Kết quả nghiên cứu đầu tiên' của chúng tôi về nhận thức của xinh viên chuyên ngữ Pháp và chuyên ngữ Anh thuộc trường Đại học Sư phạm Tp. HCM vẻ tính đa ngón ngữ đã thúc đây chúng tôi tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực ngôn ngữ xã hỏi học, các ứng. dụng của đidaetic-vã hội trong việc dạy và học ngoại ngữ. Trước những định hướng mới về chính sách ngôn ngữ tại Việt Nam (Thủ tưởng chính phú, 2008 & 2017), chúng tôi đặt ra những vấn để như sau: ~_ Làm thể nào để giúp sinh viên tận dụng kiển thức ở những ngôn ngữ đã biết vào việc học một ngôn ngữ mới” -_ Chương trình đào tạo giáo viên dạy ngoại ngữ của trường Đại học Sư phạm Tp.
HCM có giúp giảng viên và sinh viên ý thức đông thời phát huy yếu tô đa dạng ngôn ngữ” ~_ Có nên phát triển dạy-học ngoại ngữ theo hưởng didactic-xä hội trong đó chủ 1 đến yếu tổ đa ngôn ngữ của người dạy vả người học nhằm mang lại cơ hội thành công trong học tập, trong công việc cho mỗi cá nhân? Sẽ triển khai theo mô hình nào? Nhằm tìm ra giải đáp cho những vấn đề trên, trong chương Cơ sở lý luận, ngoài việc sử dụng lại các luận cứ của công trình nghiên cứu đầu tiên về đa ngôn ngữ, tiếp cận đa chiều (Nguyễn Thị Tươi, 2016). chúng tôi muốn phân biệt rõ các khái niệm về ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ mẹ đẻ, ngôn ngữ chính thức, và đa ngôn ngữ: từ đó tìm hiều những tác động tương hỗ giữa các ngôn ngữ trong quá trình dạy và học. Sau cùng chúng tôi sẽ phân tích khả năng ứng dụng bốn ziếp cận đa chiêu trong bối cảnh đảo. tạo giáo viên ngôn ngữ/ngoại ngữ tại Việt Nam.
bid ; Ws 5 ¿ 3 ; ‘ me f chun 8 ing Php nt eg Ca an sunt abit huesNeen Tm Toot, Neigm thu thing 122016, vide Dole Suptam Tp 1. Ngôn ngữ và đa ngôn ngữ 1.1 Phân biệt ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ chính thức Theo giáo sư Phạm Văn Tình, tông thư ký Hội ngôn ngữ học Việt Nam, „gồn ngữ mẹ dé hay tiéng mẹ đẻ cỏ liên quan đến nguồn gốc đân tộc của một cá nhân, là ngôn ngữ đầu tiên mã họ tiếp xúc khi vừa chảo đời. Có thể gọi đây là ngôn ngữ thứ nhất. Sau đó, trong quá trình sinh hoạt, học tập, làm việc nếu cá nhắn tiếp xúc thêm những ngôn ngữ khác thì những ngôn ngữ nảy được xem là ngôn ngữ thứ bai.
hay còn gọi là ngoại ngữ 1, 2, 3. Nghiên cứu của Ruscio (1989, 1993) đã chứng minh Việt Nam cỏ 54 dân tộc với 54 tiếng nói khác nhau trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 86,2% dân số cả nước, số còn lại thuộc các dân tộc thiểu số. Do vậy tiếng Việt không hiển nhiên là ngôn ngữ me đề của mọi công dân Việt Nam. Tiéng Việt chỉ là ngồn ngữ chỉnh thức hoặc ngôn ngữ quốc gia (Phạm Văn Tình, đã dẫn) trong giao tiếp chính thức của nhà nước Việt Nam.
Ching hen, ngôn ngữ mẹ đẻ hay riếng mẹ đẻ của dân tộc Kinh là ngôn ngữ Việt hay tiếng Việt. Các ngôn ngữ được tiếp xúc sau đó sẽ trở thành ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ đối với đân tộc Kinh. Ngoải tiếng Việt của đân tộc Kính, các dân tộc thiểu. số khác cũng có tiếng nói riêng của họ.
Có thẻ kể đến các dân tộc tập trung nhiều ở Tp. HCM như dân tộc Khmer (nỏi tiếng Khmer), dân tộc Chăm (nỏi tiếng Chăm), dân. tộc Triều Châu (nói tiếng Triều Châu). dân tộc Quảng Đông (nói tiếng Quảng Đông); hoặc đân tộc Ê-đê (nói tiếng Ê-đê) sinh sống phần lớn ở Đắk Lắk, Phú Yên, Dic Nông, Khánh Hòa`, vv.
Như vậy, dù chỉ sinh hoạt trong cộng đồng của riêng mình hoặc không có điều kiện đến trường học thì các dân tộc này vẫn phải sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp hảnh chinh như mọi công dân Việt Nam khác. Với họ, tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ mà là ngôn ngữ thứ hai (Phạm Văn Tình, đã dẫn) Một điển hình khác, ở Tây Ban Nha chắng hạn, tuy ngôn ngữ chính thức là tiếng Tây Ban Nha nhưng tiếng Catalan, tiéng Basque va tiéng Galicia vin được sử dụng rong z theo, peiacdongvnleo-doog-coltatvigno-agemi-0e bay Heng-m-de-1ON204DI4, tay chp Agy ‘cot liệu Z/Ni.wilipedia or, truy cập ngây 26/2/2019 rãi trong cộng đồng người Catalunya, người Basque vả người ở Galicia. Canada có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh và tiếng Pháp nhưng vẫn tồn tại những thành phố chỉ nói tiếng Anh (Toronto) hoặc tiếng Pháp (Québec). Nước Bỉ có ba ngôn ngữ chính thức là tiểng Pháp, tiếng Hả Lan vả tiếng Đức tương ứng với tiếng nỏi của những cộng đồng người sinh sông gần ba nude lang giéng Pháp, Hả Lan và Đức.
Như thế những. cộng đồng người sống trong một quốc gia cỏ ngôn ngữ chính thức khác với tiếng nói riêng của dân tộc họ lả những chủ thẻ sẽ tiếp xúc nhiều hơn hai ngôn ngữ. cỏ thể nỏi đa số các dân tộc thiểu số sinh sống tại Việt Nam là những cứ thể song ngữ (bilingue) khi tiếp xúc cùng lúc hai ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ vả tiếng Việt? Những người sinh sống tại Canada, Bỉ hay Tây Ban Nha có được gọi là nhiing chit thé đđa ngôn ngữ (plurilingue) khi tiếp xúc nhiều hơn hai ngôn ngữ? Chúng tôi sẽ lảm rõ hai khái niệm nảy ở phần tiếp theo.2 Đa ngôn ngữ trước xu thế hội nhập. Ngày nay nhờ sự hỗ trợ của Internet, chúng ta để dàng tiếp cận và cập nhật nhiều nguồn thông tin từ khắp nơi trên thế giới.
Do vậy việc tiếp xúc với ngôn ngữ cũng diễn ra thưởng xuyên hơn. Từ đó hình thành nhu cẳu biết nhiều ngôn ngừ đẻ phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau ở những thời điểm khác nhau nơi mỗi cá nhân: học tập. vui chơi, giải trí, giao tiếp, công việc, khám phá. Thuật ngữ song ngữ (bilingue và bilinguisme) xuất hiện trong tir din Larousse vào nam 1956 dùng để chỉ đặc tinh của một người hay một vùng có sử dụng hai ngôn ngữ.
Nhiễu người cho rằng một chứ thể song nạữ cần biết rõ thậm chí thành thạo hai ngôn ngữ. Quan niệm hạn hẹp này từng được một số ít nhà ngôn ngữ học bảo vệ ở thế ký trước. Tuy nhiên, khoảng 15 năm gần đây, trong lĩnh vực ngôn ngữ xã hội học cũng như trong lĩnh vực didactic ngôn ngữ, thuật ngữ song ngữ dần được thay thế bằng đz ngôn ngữ: {plurilingue et plurilinguisme). Vậy thế nào là một chủ thể đa ngôn ngữ ? Jean-Claude Beacco (2005.
19) cho rằng một cá nhân biết hơn một ngôn ngữ dù ở mức độ thông hiểu (nghe, đọc) hay diễn đạt (nói, viế:) đều được gọi là chủ thé da ngôn ngữ. Theo định nghĩa nảy thì tất cá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều là chủ thể đa ngôn ngữ trong đó tiếng dân tộc của họ là tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt được xem. là ngôn ngữ thứ hai. Nếu như quá trình tiếp thụ ngôn ngữ mẹ đẻ diễn ra theo trình tự các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thì ngôn ngữ thứ hai sẽ được tiếp thụ tùy vào mục địch người sử dụng hoặc hoàn cảnh qui định.
Ví dụ việc học ngoại ngữ trong các trưởng phô thông ở Việt Nam thập niên 80 của thế kỷ trước tuy chỉ dừng lại ở kỹ năng. đạc, viết thì theo định nghĩa của Beacco các học sinh này vẫn được gọi là những chủ thể đa ngôn ngữ. Joaquim Đolz (2012, tr. 8) thì cho rằng một cá nhân phải sử dụng hơn hai ngôn ngữ thì mới được gọi là chủ thê đa ngôn ngữ.
Ông đặc biệt lưu ý sự phong phú về các hình thức đa ngôn ngữ, tác động tương hỗ giữa các ngôn ngữ trong quá trình dạy và học. Theo ông, các yếu tố xã hội, lịch sử, chính trị, giáo dục sẽ chỉ phối vị trí của một ngôn ngữ và do vậy cũng quyết định việc sử dụng một hay nhiều ngôn ngữ khác nhau. ở mỗi quốc gia. Nếu như Beaceo vả Dolz phát họa bức tranh đa ngôn ngữ phong phú, đa dạng và chịu sự tác động bởi yếu tố môi trường thì Jean-Pierre Cuq nêu cụ thể những kỹ năng đặc thù của người đa ngôn ngữ.
Trong từ điền « Didactique tiéng Pháp như ngoại ngữ và ngoại ngữ thứ hai » (2003, tr. 11), Cua định nghĩa chư thể đa ngôn ngữ là người có « khả năng sử dựng một cách ý thức nhiễu ngôn ngữ khác nhau, muốn vậy họ cẵn có kỳ năng giao tiếp chuyên biệt. Cụ thể họ biết huy động vẫn ngôn ngữ trong những tình huống giao tiếp phù hợp với hoàn cảnh và văn hỏa đặc trưng ». Tuy nhiên kỹ năng đa ngôn ngữ của một cá nhân thường « không đồng nhất, và đặc biệt không hoàn hảo và đồng đều » do có sự khác biệt về mục tiêu và quá trình tiếp xúc từng ngôn ngữ.
Theo Cuq, sẽ luôn có một ngôn ngữ chiếm ưu thể hơn ngôn ngữ kia là do mỗi cá nhân «(ham gia vào các hoạt động xã hội, ở các lĩnh vực khác nhau, và họ có các hoạt động giao tiếp có chủ địch khác. nhau tày theo các chuẩn mực và yêu cầu của tình hung giao tiếp ». Một chủ thể đa ngôn ngữ cũng sẽ biết cách « dung hỏa, điều chỉnh các ngôn ngữ mà họ sử dụng cho phù hợp với vai trò và đặc trưng của từng ngôn ngữ trong những tình huỗng giao tiếp khác nhau». Sau khi xem xét những định nghĩa trên và chú ý đến bối cảnh nghiên cứu cúa để tài, chúng tôi rút ra hai điểm sau cho khái niệm « đa ngôn ngữ » - Đầu tiên.
đu ngón ngữ là một hiện tượng xã hội tổn tại trong một cộng đồng. với những cá thể và mã ngôn ngữ đa dạng. - Tiếp theo, một cá nhân được cho là đa ngôn ngữ khi sử dụng hơn một ngôn ngữ và không nhất thiết có những kỹ năng giao tiếp hoàn hảo ớ những ngôn ngữ mà họ sử dụng. Chúng tôi tự đặt câu hỏi rằng ở nước ta, hiện tượng xã hội nảy có được chú ý bởi một cá nhân, đội ngũ giảng đạy ngôn ngữ, hội Ngôn ngữ học và Bộ giáo dục ? Đến nay, chúng tôi vẫn chưa tìm được tài liệu nào xác nhận sự quan tâm đúng mức về vấn đẻ này.
Thật vậy, chúng tôi xin trích lại kết quả tử công trình nghiên cứu tìm hiểu nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Tp. HCM vẻ vấn đề đa ngôn ngữ (Nguyễn Thị Tươi, 2016) để lý giái mức độ quan tâm về ấn đề này nơi mỗi cá nhân hoặc trong một cộng đồng ở Việt Nam.