CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Đinh Trọng Việt - Lớp CH QTKD 2006 - 2008 9 Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ của trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm Công nghệ Cho đến nay ở Việt Nam, công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc. Cách hiểu này có xuất xứ từ định nghĩa trong từ điển kỹ thuật của Liên Xô trước đây: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh”.
Theo quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở Mỹ và các nước Tây Âu thuật ngữ “công nghệ” đã được sử dụng để chỉ các hoạt động có áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng - một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn - nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người. Khái niệm công nghệ này dần dần được chấp nhận rộng rãi trên thế giới. Ở Việt Nam, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI (1991) mang tên “Nghị quyết về khoa học – công nghệ”.
Như vậy thuật ngữ công nghệ đã được sử dụng chính thức ở nước ta. Năm 1992, Uỷ ban Khoa học - kỹ thuật Nhà nước đổi thành Bộ Khoa học – Công nghệ & Môi trường (nay là Bộ Khoa học – Công nghệ). Mặc dầu đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa công nghệ lại chưa có được sự thống nhất. Đó là do số lượng các công nghệ hiện có trong các lĩnh vực là rất nhiều và hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau.
Sau đây là một số định nghĩa về công nghệ : Đinh Trọng Việt - Lớp CH QTKD 2006 - 2008 10 Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ của trường Đại học Bách khoa Hà Nội • “Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý có hệ thống, có phương pháp”. Strunk) • “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”. Barason) • “Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được biến đổi thành hàng hoá”. Jones) • “Công nghệ là phương pháp biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: - Thông tin về phương pháp.
- Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc biến đổi. - Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao.” (Ngân hàng thế giới) • “Công nghệ bao gồm toàn bộ hệ thống công cụ, phương pháp và kỹ thuật được sử dụng nhằm đạt được mục tiêu”. Badawy) • “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” (Luật khoa học và công nghệ của Việt Nam) Các tổ chức quốc tế về khoa học – công nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Chúng ta thừa nhận định nghĩa công nghệ Đinh Trọng Việt - Lớp CH QTKD 2006 - 2008 11 Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ của trường Đại học Bách khoa Hà Nội do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra: Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội. Những lĩnh vực công nghệ mới mẻ dần trở thành quen thuộc: công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng … 1.
Các bộ phận cấu thành một công nghệ Bất cứ công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có 4 thành phần. Các thành phần này tác động qua lại với nhau để thực hiện quá trình biến đổi mong muốn. Các thành phần này hàm chứa trong phương tiện kỹ thuật (Facilities), trong kỹ năng của con người (Abilities), trong các tư liệu (Facts) và khung thể chế (Framework) để điều hành sự hoạt động của công nghệ. - Thành phần kỹ thuật (Technoware – T): Công nghệ hàm chứa trong các vật thể, bao gồm thiết bị, máy móc, phương tiện và các cấu trúc hạ tầng khác.
Trong công nghệ sản xuất, các vật thể này thường làm thành dây chuyền công nghệ để thực hiện quá trình biến đổi tương ứng với một quy trình công nghệ nhất định. - Thành phần con người (Humanware – H): Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người, bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, tính sáng tạo, tài lãnh đạo, khả năng phối hợp, … Đinh Trọng Việt - Lớp CH QTKD 2006 - 2008 12 Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ của trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Thành phần thông tin (Infoware – I): Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá, bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về phần con người và về phần tổ chức. - Thành phần tổ chức (Orgaware – O): Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức. Các thành phần của một công nghệ có quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau, không thể thiếu bất cứ thành phần nào.
Chúng ta cần hiểu rõ chức năng và mối tương hỗ giữa các thành phần đó để tránh tình trạng lãng phí trong đầu tư do các thành phần không đồng bộ khiến trang thiết bị không phát huy hết tính năng. Phần kỹ thuật (T) là cốt lõi của mọi công nghệ. Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện, con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ. Con người (H) đóng vai trò chủ động trong bất kỳ công nghệ nào.
Con người làm cho máy móc hoạt động, đồng thời con người có thể cải tiến, mở rộng các tính năng của nó. Trong công nghệ sản xuất, con người có hai chức năng: điều hành và hỗ trợ. Chức năng điều hành gồm vận hành máy móc và giám sát máy móc hoạt động. Chức năng hỗ trợ gồm bảo dưỡng, bảo đảm chất lượng và quản lý sản xuất.
Con người quyết định mức độ hiệu quả của phần kỹ thuật. Điều này liên quan đến thông tin mà con người được trang bị và hành vi của họ dưới sự điều hành của tổ chức. Phần thông tin, được coi là “sức mạnh” của một công nghệ, biểu hiện các tri thức được tích luỹ trong công nghệ. Nhờ các tri thức áp dụng trong công nghệ, các sản phẩm của nó có các đặc trưng mà sản phẩm cùng loại của các công nghệ khác làm ra không thể có được.
Tuy nhiên “sức mạnh” của công nghệ lại phụ thuộc con người, bởi vì con người trong quá trình sử dụng sẽ bổ sung, cập nhật các thông tin của công nghệ thay đổi theo sự tiến bộ không ngừng của khoa học. Phần tổ chức, được coi là “động lực” của một công nghệ, đóng vai trò điều hoà, phối hợp ba thành phần trên của Đinh Trọng Việt - Lớp CH QTKD 2006 - 2008 13 Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ của trường Đại học Bách khoa Hà Nội công nghệ để thực hiện hoạt động biến đổi một cách hiệu quả. Nó là công cụ để quản lý: lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự, động viên thúc đẩy và kiểm soát mọi hoạt động trong công nghệ. Mức độ phức tạp của phần tổ chức phụ thuộc vào mức độ phức tạp của ba thành phần kia của công nghệ.
Minh hoạ quan hệ giữa bốn thành phần công nghệ Hình 1.1 mô tả mối quan hệ giữa bốn thành phần của một công nghệ, trong đó phần H như bộ não, phần T như trái tim, không khí chung quanh như thông tin I, tất cả nằm trong ngôi nhà tổ chức O. Mối quan hệ giữa bốn thành phần công nghệ được biểu thị qua giá trị đóng góp của công nghệ vào hàm lượng công nghệ gia tăng của một doanh nghiệp. Hàm lượng công nghệ gia tăng (Technology content added – TCA) được xác định theo công thức : TCA = TCO − TCI = λ.VA Trong đó: TCO – hàm lượng công nghệ của các đầu ra TCI – hàm lượng công nghệ của các đầu vào λ - hệ số môi trường công nghệ nơi hoạt động sản xuất diễn ra Đinh Trọng Việt - Lớp CH QTKD 2006 - 2008 14 Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ của trường Đại học Bách khoa Hà Nội (λ≤1) VA – giá trị gia tăng TCC - hệ số đóng góp của công nghệ (Technology contribution coefficient) Hàm hệ số đóng góp của công nghệ TCC đặc trưng cho sự đóng góp của công nghệ vào hoạt động sản xuất được xác định theo công thức: TCC = T βt. O βo ≤ 1 Trong đó: T,H,I,O – đóng góp riêng của các thành phần công nghệ với qui ước: 0 < T,H,I,O ≤ 1 βt, βh,βi,βo - cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ với: βt + βh + βi + βo = 1 Nếu xác định được giá trị đóng góp riêng của các thành phần công nghệ, có thể vẽ được đồ thị THIO.2 cho thấy đồ thị THIO của 2 doanh nghiệp trong cùng một ngành nhưng các thành phần công nghệ có mức độ tinh vi khác nhau (do vậy đóng góp riêng cũng khác nhau).
Doanh nghiệp 1 T 1 Doanh nghiệp 2 1 1 I 1 Hình 1. Đồ thị THIO Đinh Trọng Việt - Lớp CH QTKD 2006 - 2008 15 Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ của trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1.