phần mở đầu, chƣơng 1, chƣơng 2, chƣơng 3, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. 4 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN DẠY HỌC THEO LAMAP 1. Tính tích cực và tính sáng tạo 1. Tính tích cực của học sinh 1.
Khái niệm tính tích cực Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con ngƣời, bởi vì để tồn tại và phát triển con ngƣời luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trƣờng tự nhiên, cải tạo xã hội. Tính tích cực học tập liên quan đến động cơ tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực.
Tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ tới tƣ duy độc lập. Suy nghĩ, tƣ duy độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngƣợc lại, học tập độc lập, tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và nuôi dƣỡng động cơ học tập. Biểu hiện của tính tích cực Tính tích cực biểu hiện sự nỗ lực của học sinh khi tƣơng tác với đối tƣợng trong quá trình học tập, nghiên cứu, thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (nhƣ hứng thú, chú ý, ý chí.) nhằm đạt đƣợc mục đích đặt ra với mức độ cao.Tính tích cực của học sinh biểu hiện ở cả bên trong lẫn biểu hiện bên ngoài.
Biểu hiện bên ngoài qua thái độ, hành vi và hứng thú: Học sinh chú ý lắng nghe, quan sát , theo dõi thầy cô; khao khát tự nguyện tham gia trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời của bạn; phát biểu ý kiến của mình trƣớc vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chƣa đủ rõ, kiên trì, tự giác hoàn thành các nhiệm vụ, xin nhận thêm nhiệm vụ; thƣờng xuyên tranh luận, trao đổi với bạn bè về các vấn đề học tập, không nản chí khi gặp khó khăn. Biểu hiện bên trong: Biểu hiện bên trong là những biểu hiện khó phát hiện hơn, có những sáng tạo trong học tập hơn trƣớc, tập trung chú ý vào vấn đề đang học. 5 z Biểu hiện qua kết quả học tập: Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trƣớc những tình huống khó khăn và đạt kết quả học tập tốt hơn.[4] Một vài đặc điểm về tính tích cực của học sinh Tính tích cực của học sinh có mặt tự phát và mặt tự giác: Mặt tự phát: Là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà học sinh đều có ở những mức độ khác nhau. Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dƣớng, phát triển chúng trong dạy học.
Mặt tự giác: Là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tƣợng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tƣợng đó. Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán tƣ duy, trí tò mò khoa học. Các biện pháp phát huy tính tích cực Để có thể phát huy đƣợc tích tích cực, tự lực của HS trong quá trình học tập thì GV cần: Đảm bảo cho HS có điều kiện tâm lý thuận lợi để tích cực hoạt động; tạo điều kiện để HS có thể tự lực giải quyết những nhiệm vụ đƣợc giao. Các biện pháp nâng cao tính tích cực của học sinh trong giờ lên lớp đƣợc phản ảnh trong các công trình nghiên cứu xƣa và nay, có thể tóm tắt nhƣ sau: Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu.
Từ đó gây hứng thú nhận thức cho học sinh, có hứng thú tạo tiền đề cho học sinh tích cực học tập. Lựa chọn nội dung dạy học phải mới, nhƣng không quá xa lạ với học sinh, cái mới phải liên hệ, phát triển từ cái cũ và có khả năng áp dụng trong tƣơng lai. Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của học sinh. Sử dụng các phƣơng pháp dạy học đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, semina, làm việc độc lập, làm việc nhóm và phối hợp chúng với nhau.
Kiến thức phải đƣợc trình bày trong sự phát triển và mâu thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ. Trong khi dạy kiến thức mới thì nên chia bài học thành các vấn đề 6 z nhỏ mà các vấn đề trƣớc là tiền đề giải quyết vấn đề sau, các vấn đề sau là sự phát triển vấn đề trƣớc. Tổng hợp các vấn đề lại thì học sinh thấy đƣợc nội dung chính của bài học. Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan, phòng thí nghiệm.
Việc thay đổi hình thức dạy học sẽ tránh cho học sinh sự nhàm chán, khuôn mẫu, đồng thời phát huy đƣợc không khí học tập năng động, thoải mái. Tổ chức luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới. Hình thức luyện tập là phƣơng tiện để học sinh bộc lộ các mức độ nắm vững kiến thức của mình nhƣ: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá của Bloom. Kiểm tra đánh giá thƣờng xuyên, khen thƣởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức.
Sử dụng các phƣơng tiện dạy học đặc biệt là các phƣơng tiện dạy học hiện đại nhƣ: sử dụng máy tính, máy chiếu, phần mềm dạy học,. Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa giáo viên và học sinh. Thái độ ân cần, đúng mực giữa giáo viên và học sinh là điều kiện tốt để học sinh không còn rụt dè khi trao đổi, dám bộc lộ suy nghĩ riêng của mình, qua đó sẽ tích cực tìm hiểu kiến thức mới. Phát triển kinh nghiệm sống và hiểu biết của học sinh qua các phƣơng tiện thông tin và các hoạt động xã hội.
Giaó viên cần khuyến khích học sinh có thể nhận thức thế giới thông qua kinh nghiệm sống, qua các nguồn tài liệu ngoài SGK. Tạo không khí học tập lành mạnh trong lớp học, trong trƣờng, biểu dƣơng những học sinh có thành tích học tập tốt. Phối hợp chặt chẽ và khoa học giữa thầy giáo, nhà quản lí, phụ huynh học sinh để động viên, khích lệ, khen thƣởng các em học sinh. Tính sáng tạo 1.
Khái niệm tính sáng tạo Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị (Sáng tạo, Bách 7 z khoa toàn thƣ LX, Tập 42, trang 54). Hay “Sáng tạp là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, hay sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có ( Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, 1988). Khi nói đến sáng tạo là cần nói đến khả năng hình thành cái mới mẻ và khả năng vận dụng vào hoàn cảnh mới. Đó là năng lực tƣởng tƣợng nhanh có nhiều lời giải độc đáo.
Theo nghĩ thông thƣờng, sáng tạo là một tiến trình phát kiến ra các ý tƣởng và quan niệm mới, hay một kết hợp mới giữa các ý tƣởng và quan niệm đã có. Hay đơn giản hơn, sáng tạo là một hành động làm nên những cái mới. Biểu hiện của tính sáng tạo Biểu hiện sáng tạo của HS đƣợc thể hiện ngay trong quá trình học tập, và đƣợc biểu hiện qua các hành động cụ thể: Biết trả lời nhanh, chính xác câu hỏi của GV, biết phát hiện những vấn đề mấu chốt, tìm ra ẩn ý (vấn đề) trong câu hỏi, bài tập hoặc vấn đề mở rộng nào đó. Dám mạnh dạn đề xuất những cái mới không theo đƣờng mòn, không theo những quy tắc đã có và biết cách biện hộ, phản bác vấn đề đó.
Biết tự tìm ra vấn đề, tự phân tích, tự giải quyết bài tập mới, vấn đề mới. Biết vận dụng tri thức thực tế để giải quyết vấn đề khoa học và ngƣợc lại biết vận dụng tri thức khoa học để đƣa ra những sáng kiến, giải thích, áp dụng phù hợp. Biết kết hợp các thao tác tƣ duy và các phƣơng pháp phán đoán, đƣa ra kết luận chính xác và ngắn gọn nhất. - Biết trình bày linh hoạt một vấn đề, dự kiến nhiều phƣơng án giải quyết.
- Luôn biết đánh giá và tự ĐG công việc, biết đề xuất biện pháp hoàn thiện. - Biết cách học thầy, học bạn, biết kết hợp các phƣơng tiện thông tin, khoa học kỹ thuật trong khi tự học.Biết vận dụng và cải tiến những điều đã học đƣợc. Biết thƣờng xuyên liên tƣởng. 8 z Có tâm lí chấp nhận những lời giải khác nhau, những cách giải quyết khác nhau, xem xét đối tƣợng ở những khía cạnh khác nhau [7],[8].
Trên đây là một số biểu hiện thƣờng thấy của những HS thông minh, sáng tạo trong học tập. Tuy nhiên những biểu hiện của năng lực sáng tạo có thể đƣợc thể hiện hay không, thể hiện nhiều hay ít còn phụ thuộc vào cách kiểm tra ĐG của GV. Các biện pháp phát triền tính sáng tạo Sáng tạo không phải là sản phẩm đồng đều trong hoạt động dạy học. Dạy học có thể cần phát huy óc sáng tạo, phát triển tƣ duy của học sinh qua hoạt động học tập.
Theo Nguyễn Đức Thâm thì có các biện pháp chung nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập, cụ thể là: Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn với quá trình xây dựng kiến thức mới. Việc nghiên cứu kiến thức mới sẽ thƣờng xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi học sinh phải đƣa những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân học sinh. Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết. Dự đoán trên cơ sở của trực giác, kết hợp với kinh nghiệm sẵn có và kiến thức sâu sắc về một lĩnh vực.
Luyện tập đề xuất phƣơng án thí nghiệm kiểm tra dự đoán:Từ một dự đoán, giả thuyết, ta phải suy ra đƣợc một hệ quả có thể quan sát đƣợc trong thực tế, sau đó tiến hành thí nghiệm để kiểm tra xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm không. Quá trình rút ra hệ quả thƣờng áp dụng suy luận lôgic hay suy luận toán học.