Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Chủ Đề Giới Hạn cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông

Luận án tiến sĩ nghiên cứu dạy học chủ đề giới hạn cho học sinh ở trường trung học phổ thông theo hướng cải thiện năng lực tư, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

351
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.3. Giả thuyết khoa học

1.4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Tổng quan các kết quả nghiên cứu về tư duy và tư duy bậc cao

2.2. Nghiên cứu về tư duy

2.3. Các nghiên cứu về tư duy bậc cao

2.4. Phân loại tư duy

2.5. Con đường hình thành và phát triển tư duy

2.6. Nhận thức và siêu nhận thức

2.7. Siêu nhận thức

2.8. Tư duy bậc cao

2.8.1. Thành tố của tư duy bậc cao

2.8.2. Biểu hiện và các mức độ của tư duy bậc cao

2.8.3. Phát triển tư duy bậc cao cho học sinh trong dạy học môn toán ở trường THPT

2.8.3.1. Sự cần thiết hình thành và phát triển tư duy bậc cao cho học sinh THPT
2.8.3.2. Định hướng chung về dạy học phát triển tư duy bậc cao cho học sinh THPT
2.8.3.3. Một số phương pháp dạy học theo hướng phát triển tư duy bậc cao cho học sinh THPT
2.8.3.4. Tổ chức dạy học phát triển tư duy bậc cao cho học sinh THPT
2.8.3.5. Thực trạng của việc rèn luyện và phát triển tư duy bậc cao cho học sinh trong dạy học môn Toán nói chung và dạy học Giải tích ở trường THPT nói riêng
2.8.3.6. Kết quả khảo sát đối với giáo viên
2.8.3.7. Nhận xét rút ra từ kết quả khảo sát

2.9. Kết luận chương 1

3. DẠY HỌC CHỦ ĐỀ GIỚI HẠN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY BẬC CAO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3.1. Nguyên tắc chung trong việc đề xuất các biện pháp dạy học theo hướng phát triển tư duy bậc cao cho học sinh THPT

3.2. Đảm bảo các mục tiêu dạy học của môn Toán đồng thời rèn luyện và phát triển tư duy bậc cao cho học sinh THPT

3.3. Đảm bảo tích cực hoá hoạt động người học thông qua giao việc, tạo điều kiện để người học phát huy hết phẩm chất, năng lực và chủ động chiếm lĩnh tri thức

3.4. Khả thi trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam giúp giáo viên có thể vận dụng vào việc dạy học tại các trường THPT

3.5. Một số biện pháp dạy học theo hướng phát triển tư duy bậc cao cho học sinh THPT

3.5.1. Rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi cho học sinh trong dạy học theo hướng phát triển tư duy bậc cao

3.5.2. Thiết kế và sử dụng hệ thống các tình huống dạy học theo hướng phát triển tư duy bậc cao cho học sinh

3.5.3. Tổ chức dạy học theo dự án nhằm phát triển tư duy bậc cao cho học sinh

3.6. Kết luận chương 2

4. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Mục đích thực nghiệm

4.2. Đối tượng thực nghiệm

4.3. Thời gian và phương án thực nghiệm

4.4. Thực nghiệm thăm dò

4.5. Thực nghiệm chính thức

4.6. Nội dung thực nghiệm

4.7. Kết quả thực nghiệm và biện luận

4.7.1. Các bình diện được đánh giá

4.7.2. Phân tích kết quả thực nghiệm và biện luận

4.8. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về Dạy học giới hạn và Phát triển tư duy bậc cao TDBC cho học sinh trung học

Phần này khảo sát cơ sở lý luận về dạy học giới hạn trong chương trình toán trung học phổ thông. Tài liệu tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước về tư duytư duy bậc cao (TDBC). Phân loại tư duy thành tư duy bậc thấp và tư duy bậc cao, nhấn mạnh vai trò của tư duy phản biện, tư duy logic, tư duy hệ thống, và tư duy sáng tạo trong phát triển năng lực học sinh. Mục tiêu giáo dục hiện đại đòi hỏi sự chuyển dịch trọng tâm từ học tập truyền thống sang học tập tích cực, thúc đẩy khám phágiải quyết vấn đề. Mô hình Bloom được phân tích để làm rõ các cấp độ nhận thức liên quan đến TDBC. Siêu nhận thức (SNT) đóng vai trò quan trọng trong việc tự điều chỉnh và đánh giá quá trình học tập. Nghiên cứu của Resnick [78] định nghĩa TDBC là tư duy không theo thuật toán, phức tạp, tạo ra nhiều giải pháp, liên quan đến sự không chắc chắn, áp dụng nhiều tiêu chí, có sự phản ánh và tự điều chỉnh. Các nghiên cứu của Boddy, Watson và Aubusson; De Bono; Enni; Kuhn; Watts, Jofili và Bezerra [80],[83] cũng được tham khảo để làm rõ khái niệm tư duy và cách thúc đẩy nó trong quá trình dạy học. Giáo dục STEMgiáo dục thế kỷ 21 đề cao việc phát triển năng lực tư duygiải quyết vấn đề.

1.1. Thực trạng dạy học giới hạn và phát triển tư duy bậc cao ở trường trung học phổ thông

Phần này trình bày thực trạng dạy học chủ đề giới hạn tại các trường trung học phổ thông ở Việt Nam. Kết quả khảo sát cho thấy nhiều hạn chế trong việc áp dụng các phương pháp dạy học hiệu quả để phát triển TDBC cho học sinh. Giáo viên thường tập trung vào truyền đạt kiến thức, thiếu các hoạt động học tập tích cực, giải quyết vấn đề, và rèn luyện kỹ năng tư duy. Khảo sát được thực hiện bằng phỏng vấn giáo viên và học sinh, thu thập dữ liệu về hiểu biết của giáo viên về TDBC, phương pháp dạy học, và mong muốn của học sinh về cách học. Dữ liệu được phân tích để đánh giá hiệu quả của các chương trình dạy học hiện hành trong việc phát triển TDBC. Kết quả cho thấy sự cần thiết phải cải thiện chương trình dạy họcphương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dụcphát triển năng lực học sinh. Phân tích dữ liệu khảo sát để xác định khoảng cách giữa thực tiễnmục tiêu giáo dục đề ra. Đánh giá những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi thực hiện dạy học theo hướng phát triển TDBC.

1.2. Kỹ năng tư duy phê phán kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng sáng tạo trong dạy học giới hạn

Phần này tập trung vào vai trò của kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng sáng tạo trong việc dạy học chủ đề giới hạn. Kỹ năng tư duy phê phán giúp học sinh phân tích, đánh giá thông tin, đề xuất các giải pháp khác nhau. Kỹ năng giải quyết vấn đề giúp học sinh tiếp cận vấn đề một cách có hệ thống, tìm ra các hướng giải quyết hiệu quả. Kỹ năng sáng tạo khuyến khích học sinh đưa ra các ý tưởng mới, giải quyết vấn đề một cách độc đáo. Thực hành dạy học cần tích hợp các hoạt động giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng này. Thiết kế bài học cần chú trọng đến việc đặt ra các câu hỏi mở, tạo cơ hội cho học sinh thảo luận, chia sẻ ý kiến. Đánh giá học sinh không chỉ dựa trên kiến thức mà còn trên quá trình tư duy, cách giải quyết vấn đề, và độ sáng tạo. Phương pháp dạy học phải linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng học sinh. Tài liệu tham khảo các nghiên cứu về phát triển kỹ năng tư duy ở học sinh trung học để làm rõ lý thuyếtthực tiễn.

II. Phương pháp dạy học giới hạn theo hướng phát triển TDBC

Phần này đề xuất các phương pháp dạy học cụ thể cho chủ đề giới hạn nhằm phát triển TDBC. Các phương pháp này dựa trên lý thuyết dạy học tích cực, khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh trong quá trình học tập. Học tập dựa trên dự án được đề xuất như một mô hình dạy học hiệu quả, giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng hợp tác. Tình huống dạy học được thiết kế để tạo ra các thách thức tư duy cho học sinh, khuyến khích họ suy nghĩ sâu sắc, tìm ra các giải pháp sáng tạo. Đánh giá học sinh được thực hiện đa dạng, bao gồm cả đánh giá quá trìnhđánh giá sản phẩm, nhằm phản ánh toàn diện năng lực của học sinh. Giáo án minh họa được trình bày để làm rõ cách áp dụng các phương pháp dạy học này. Rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi giúp học sinh tự chủ trong quá trình học tập, phát triển khả năng tư duy phản biện. Thực tiễn dạy học cần chú trọng đến sự linh hoạt và sáng tạo của giáo viên trong việc điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện thực tế.

2.1. Thiết kế bài học tình huống dạy học và dạy học dựa trên dự án

Phần này chi tiết hóa cách thiết kế bài học, tạo tình huống dạy học, và tổ chức dạy học dựa trên dự án cho chủ đề giới hạn. Thiết kế bài học cần đảm bảo tính khơi gợi, tính thách thức, và tính ứng dụng. Tình huống dạy học cần được thiết kế sao cho phù hợp với mức độ nhận thức của học sinh, kích thích sự tò mò, và ham muốn khám phá của học sinh. Dạy học dựa trên dự án cho phép học sinh chủ động trong quá trình học tập, tự lựa chọn chủ đề, tự thiết kế sản phẩm, và tự đánh giá kết quả. Hướng dẫn cụ thể về cách xây dựng dự án, phân công nhiệm vụ, và hỗ trợ học sinh trong quá trình thực hiện dự án. Đánh giá được thực hiện theo hướng đánh giá năng lực, không chỉ tập trung vào kết quả cuối cùng mà còn vào quá trình học tập của học sinh. Ví dụ minh họa về cách thiết kế bài học, tạo tình huống, và hướng dẫn học sinh thực hiện dự án.

2.2. Đánh giá học sinh và phản hồi

Phần này đề cập đến phương pháp đánh giá học sinh trong dạy học giới hạn theo hướng phát triển TDBC. Đánh giá không chỉ tập trung vào kiến thức mà còn vào quá trình tư duy, kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng sáng tạo của học sinh. Phương pháp đánh giá đa dạng, bao gồm đánh giá hình thành, đánh giá tổng kết, đánh giá tự chủ, và đánh giá đồng đẳng. Phản hồi được xem là một phần quan trọng của quá trình đánh giá, giúp học sinh nhận thức được thành tựu, khuyết điểm, và hướng tới sự tiến bộ. Phản hồi cần được đưa ra một cách kịp thời, cụ thể, và mang tính xây dựng. Ví dụ về các biểu mẫu đánh giá, các tiêu chí đánh giá, và cách thức đưa ra phản hồi cho học sinh. Đánh giá cần đảm bảo tính khách quan, công bằng, và kích lệ học sinh.

III. Kết quả thực nghiệm và thảo luận

Phần này trình bày kết quả thực nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả của các phương pháp dạy học đã đề xuất. Thực nghiệm được tiến hành trên một nhóm học sinh trung học phổ thông, so sánh kết quả học tập của nhóm học sinh được dạy bằng phương pháp mới và nhóm học sinh được dạy bằng phương pháp truyền thống. Dữ liệu được thu thập thông qua các bài kiểm tra, bài làm dự án, và quan sát quá trình học tập của học sinh. Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu quả của các phương pháp dạy học mới trong việc phát triển TDBC cho học sinh. Phân tích thống kê được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa hai nhóm học sinh. Thảo luận các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực nghiệm, và những hạn chế của nghiên cứu. Kết luận chung về hiệu quả của nghiên cứu và những đề xuất cho thực tiễn dạy học.

3.1. Phân tích dữ liệu thực nghiệm

Phần này tập trung vào phân tích dữ liệu thực nghiệm thu thập được từ các bài kiểm tra, bài làm dự án, và quan sát quá trình học tập của học sinh. Dữ liệu được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định sự khác biệt giữa hai nhóm học sinh được dạy bằng phương pháp mớiphương pháp truyền thống. Kết quả phân tích cho thấy sự khác biệt rõ rệt về năng lực tư duy, kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng sáng tạo giữa hai nhóm học sinh. Biểu đồ, bảng số liệu được sử dụng để minh họa kết quả phân tích. Thảo luận về sự khác biệt này, và các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả.

3.2. Kết luận và đề xuất

Phần này tóm tắt các kết luận chính của nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của các phương pháp dạy học đã đề xuất. Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chương trình dạy học, phương pháp dạy học, và đánh giá học sinh trong thực tiễn dạy học chủ đề giới hạn. Đề xuất cũng bao gồm việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về các phương pháp dạy học mới, và xây dựng các tài liệu hỗ trợ cho giáo viên và học sinh. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển TDBC cho học sinh trung học, và vai trò của giáo viên trong việc tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tự học, tự nghiên cứu.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan các kết quả nghiên cứu về tư duy và tư bậc cao 1. Nghiên cứu về tư duy Tư duy - thành phần cốt lõi của trí tuệ là một hoạt động phong phú, phức tạp trong tâm lí học, là một trong rất ít lĩnh vực được đề cập ngay từ những ngày khởi nguyên của khoa học tâm lí giáo dục.

Cho đến nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về bản chất các quy luật phát sinh, phát triển của tư duy; nhiều chương trình dạy học có tính cách mạng được xây dựng trên nền tảng khoa học về trí tuệ, về tư duy, song nghiên cứu về trí tuệ nói chung và về tư duy nói riêng vẫn đang được tiếp tục bàn luận trên nhiều diễn đàn khoa học về tâm lý và giáo dục học. Vào đầu thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận nghiên cứu tư duy [18], [32], [48] theo các hướng sau: Các nhà triết học, tâm lý học người Anh Đ. Spenxơ với cách tiếp cận liên tưởng vấn đề tư duy, đã dựa vào cơ chế phản xạ có điều kiện do P. Pavlov phát hiện làm cơ sở sinh lý thần kinh của các mối liên tưởng tâm lý.

Các tác giả đã cho rằng tư duy là quá trình thay đổi tự do, tập hợp các hình ảnh, là liên tưởng các biểu tượng; tư duy luôn gắn liền với hình ảnh của sự vật hiện tượng. Một số nhà tâm lí học khác như O. Biulơ với cách tiếp cận tư duy theo hành động tinh thần đã cho rằng: “Tư duy là hành động bên trong của chủ thể nhằm xem xét các mối quan hệ. Hành động tư duy là công việc của cái “tôi”chủ thể, nó chịu ảnh hưởng của nhiệm vụ tư duy (bài toán tư duy) và bài toán tư duy định hướng cho hành động tư duy.

Thực chất của việc giải bài toán tư duy là sự vận hành của các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa”[47]. Quan điểm của O. Biulơ là bước tiến lớn trên con đường tìm hiểu bản chất của tư duy, song trường phái này lại cực đoan cho rằng tư duy thuần túy là hành động bên trong, không liên quan gì tới các nhân tố bên ngoài. Vì thế, vấn đề bản chất xã hội và logic tâm lý của tư duy vẫn còn để ngỏ.

Skinner là các đại diện tiêu biểu cho trường phái tâm lý học hành vi.Watson đồng nhất tư duy với hành vi trí tuệ. Tư duy cũng được hình thành luan an 7 theo cơ chế phản xạ và cần phải luyện tập thường xuyên; tư duy có thể được bộc lộ ra bên ngoài qua các hành động. Do đó, ông chia tư duy thành ba dạng: Thứ nhất là các thói quen, kỹ xảo, ngôn ngữ đơn giản. Thứ hai là giải quyết các nhiệm vụ tuy không mới, nhưng ít gặp và phải có hành vi ngôn ngữ kèm theo.

Thứ ba là giải quyết nhiệm vụ mới, buộc chủ thể rơi vào hoàn cảnh phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết bằng ngôn ngữ trước khi thực hiện một hành động cụ thể [21]. Như vậy, công lao to lớn của Thuyết hành vi là đưa tính khách quan, tính khoa học vào nghiên cứu trí tuệ con người và muốn nghiên cứu khách quan tư duy con người thì phải nghiên cứu hành vi của họ. Piaget và cộng sự khi nghiên cứu tư duy, trí tuệ thông qua hai nội dung gắn bó hữu cơ với nhau đó là học thuyết về cấu trúc, chức năng và sự phát sinh, phát triển của trí tuệ. Trên quan điểm sinh học và logic học, J.

Piaget đã cho rằng: Trí tuệ có bản chất thao tác (operations) và trẻ em xây dựng lên bằng chính những hành động (action) của mình. Sự phát triển trí tuệ được hiểu là sự phát triển hệ thống thao tác [47]. Như vậy, thao tác chính là hành động bên ngoài, hành động có tính rút gọn quá trình tư duy và có những đối tượng thao tác không phải là các sự vật thật mà là các biểu tượng, ký hiệu, hình ảnh do đó tư duy có thể đánh giá được thông qua hoạt động và kết quả của hoạt động. Theo Nguyễn Bá Kim [32]: “Trí tuệ cá nhân được phát triển từ thấp đến cao và tuân theo hai quy luật tăng trưởng liên tục và phát triển nhảy vọt.

Mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cao yếu tố trưởng thành sinh học của cá nhân nên chưa thấy được vai trò chủ đạo của yếu tố xã hội. Từ những năm 1930 của thế kỷ XX, tiếp cận tư duy, trí tuệ từ hoạt động, L.Galperin… đã khai thác triệt để thành tựu của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vào trong nghiên cứu hoạt động trí tuệ và tư duy. Luận điểm cơ bản của học thuyết là: “Tâm lý, tư duy của con người được hình thành và biểu hiện ra bên ngoài qua hoạt động, mà trước hết là lao động sản xuất và hoạt động xã hội.

Vì vậy, muốn nghiên cứu tâm lý, tư duy của con người một cách khách quan, tất yếu phải bắt đầu từ nghiên cứu toàn bộ đời sống (cấu trúc, lịch sử phát sinh hình thành và phát triển) của hoạt động thực tiễn của con người” [21]. Vygotsky đưa ra một nhận định quan trọng: “Trí tuệ của trẻ em luan an 8 được hình thành bằng chính hoạt động của nó, mỗi giai đoạn phát triển có nhiều hoạt động trong đó có hoạt động chủ đạo” [54]. Ông còn cho rằng: “Trí tuệ bậc cao của trẻ là sản phẩm của hoạt động và hợp tác của nó với người lớn, vì vậy dạy học hợp tác giữa người dạy và người học là phương thức mang lại hiệu quả nhất. Dạy học, theo đúng chức năng của nó là dạy học phát triển.

Muốn vậy, nó không được đi sau sự phát triển, phụ họa cho sự phát triển. Dạy học phải đi trước sự phát triển, kéo theo sự phát triển. Tức là dạy học không hướng vào trình độ phát triển hiện thời mà tác động vào vùng phát triển gần nhất trong trí tuệ học sinh” [19], [47]. Bước sang thế kỷ XX, J.

Guilford đã đề xuất mô hình cấu trúc 3 mặt của trí tuệ. Theo đó, trí tuệ có 2 thành phần: tư duy hội tụ (Overgence thinking) và tư duy phân kỳ (Divergence thinking). Trong đó, tư duy hội tụ là thành phần logic của trí tuệ và tư duy phân kỳ là tư duy sáng tạo, làm cơ sở để cá nhân tạo ra cái mới, độc đáo và có ích cho xã hội [47]. Với quan niệm quy hẹp trí tuệ vào các thành phần cốt lõi của nó là tư duy V.

Perkins cho rằng: “Việc nâng cao năng lực hoạt động của hệ thần kinh là rất phức tạp, lâu dài và nhà trường có vai trò to lớn. Do vậy, giải pháp tốt nhất để phát triển trí tuệ của HS là nhà trường cần tập trung vào vấn đề thủ thuật tư duy, rèn luyện các chiến thuật tư duy. Để tư duy hiệu quả, người học phải nắm được 3 cấp độ của trạng thái tư duy:  Nhận thức vấn đề, tức là xây dựng khung nhận thức - khung tư duy của từng cá nhân và sự biến đổi của nó;  Nhập tâm (tự động hóa), tức là giai đoạn các khung tư duy, các thao tác tư duy được rèn luyện tới mức có thể áp dụng vào từng trường hợp cụ thể một cách tự giác, thuần thục;  Chuyển hóa (chuyển giao), tức là sử dụng khung tư duy vào các hoàn cảnh khác nhau” [47] [71], [72]. Sternberg: “Năng lực trí tuệ và năng lực tư duy không thể tách rời nhau, mặc dù năng lực trí tuệ rộng hơn.

Ông gọi tên ba thành phần trí tuệ đó là: cấu trúc, kinh nghiệm, điều kiện và coi thành phần cấu trúc trí tuệ chính là cấu trúc của kỹ năng tư duy. Trong cấu trúc này có 3 thành phần:  siêu cấu trúc là thành phần điều khiển, có chức năng lập kế hoạch, theo dõi và đánh giá các chiến lược giải quyết các vấn đề của cá nhân;  thành phần thực hiện, giúp cá nhân triển khai các chỉ dẫn của thành phần siêu cấu trúc, trong đó quan trọng nhất là việc suy luận ra các mối quan hệ;  thành phần tiếp thu tri thức, liên quan chủ yếu đến khả năng tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ mà điểm then chốt là xác định yếu tố phù hợp” [47]. luan an 9 Khi thế giới ngày càng trở nên “phẳng” hơn, trí tuệ nhân tạo ngày càng chiếm ưu thế đã đặt giáo dục đứng trước cơ hội và thách thức mới. Với việc coi vấn đề căn nguyên, gốc rễ để tìm ra PP giáo dục hợp lý là tập trung vào bản chất tư duy của con người, Bernie Trilling và Charles Fadel đã xác định các kỹ năng cần có của công dân toàn cầu trong khung học tập thế kỷ XXI với công thức: “3Rs x 7Cs”.

3Rs gồm:  Kỹ năng đọc,  viết,  tính toán và 7Cs gồm:  Kỹ năng tư duy phê phán và giải quyết vấn đề;  Kỹ năng sáng tạo và đổi mới;  Kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm;  thông hiểu các nền văn hóa;  Kỹ năng truyền thông đa phương tiện;  Kỹ năng máy tính và công nghệ thông tin;  Kỹ năng nghề nghiệp và tự học [103]. Các nghiên cứu về tư duy bậc cao Tuy đã xuất hiện từ nhiều thập kỉ qua và có nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã nghiên cứu nhưng cho đến nay sự hiểu biết tường tận về TDBC (khái niệm, về cấu trúc và những biểu hiện, tầm quan trọng của TDBC. ) vẫn còn chưa nhiều và đang cần được quan tâm đúng mức. Fisher, Marzano, Zohar và Schwarter cho rằng: “Phát triển và nâng cao TDBC của HS là mục tiêu chính của giáo dục” [102].

Kết quả khảo sát về quan điểm DH phát triển tư duy của Yee và cộng sự trên đối tượng GV cũng nhận được kết quả: “Hầu hết các GV đều cho rằng việc dạy TDBC cho HS là quan trọng” [102]. Fisher tin rằng:“Sự phát triển TDBC của HS chính là điều cần thiết cho việc học tập suốt đời của mỗi con người. Nói cách khác, chúng ta cần những HS biết cách suy nghĩ để có thể đáp ứng không ngừng với nhu cầu luôn thay đổi của thế giới thực” [99]. Theo Wendy Conklin: “Các kỹ năng TDBC là để phát triển việc học trong thế kỷ XXI” [101].

Nhóm tác giả Đại học bang North Carolina của Hoa Kỳ cũng thừa nhận có loại hình TDBC và khẳng định: “Dạy học phát triển TDBC cho HS có vai trò đặc biệt quan trọng đối với QT DH” [93].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Chủ Đề Giới Hạn cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông" của tác giả Nguyễn Thị Quốc Hòa, dưới sự hướng dẫn của TS. Đào Thái Lai và TS. Cao Thị Hà, được thực hiện tại Đại học Thái Nguyên vào năm 2019. Bài viết tập trung vào việc phát triển tư duy bậc cao cho học sinh trung học phổ thông thông qua phương pháp dạy học chủ đề giới hạn trong môn Toán học. Nội dung của luận án không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn đưa ra các phương pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, từ đó giúp học sinh phát triển khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học và phát triển tư duy cho học sinh, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Phát triển tư duy và kỹ năng lập luận toán học cho học sinh trung học cơ sở", nơi nghiên cứu về cách phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua các chủ đề toán học. Bên cạnh đó, "Quản Lý Hoạt Động Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học Cho Giáo Viên Tại Trường Trung Học Phổ Thông Tam Đảo" cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn về việc bồi dưỡng năng lực cho giáo viên, từ đó nâng cao chất lượng dạy học. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo "Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay" để hiểu rõ hơn về các chính sách và quản lý trong lĩnh vực giáo dục, góp phần vào việc cải thiện chất lượng dạy học.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp và chính sách giáo dục hiện nay, từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực này.