LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nƣớc theo xu thế toàn cầu, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng đƣợc nâng cao và cải thiện rõ rệt, nhu cầu đƣợc giao lƣu, học hỏi, hiểu biết về nền văn hoá, khoa học, kinh tế của các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ nhu cầu đƣợc giải trí tinh thần là một trong những nhu cầu bức thiết nhất và bùng nổ nhất hiện nay và trong thời gian tới. Truyền hình đóng vai trò là phƣơng tiện thông tin mang tới trên 80% nhu cầu giải trí và thông tin nói trên cho hơn 95% dân số trên cả nƣớc. Chính vì lẽ đó mà nhiệm vụ của ngành truyền hình cả nƣớc ngày càng phải đa dạng hoá các phƣơng thức phát thanh và truyền hình. Phát triển hệ thống thông tin đại chúng phục vụ tích cực có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội thủ đô, nâng cao nhận thức tƣ tƣởng đáp ứng nhu cầu hƣởng thụ văn hoá lành mạnh của nhân dân.
Truyền hình trả tiền nói riêng ở nƣớc ta đã hình thành và đang tăng trƣởng nhanh với tốc độ chóng mặt và hết sức phức tạp đặc biệt là các khu vực đô thị và thành phố. Phải nói rằng hoạt động của thị trƣờng Truyền hình trả tiền trong thời gian qua đã góp phần cải thiện rõ rệt nhu cầu đƣợc xem truyền hình đa kênh của nhân dân. Mặt khác, Thực hiện chủ trƣơng đổi mới, mở cửa và hội nhập nền kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nƣớc, từ năm 1995 đến nay chúng ta đã tiến hành hàng loạt hoạt động gia nhập các tổ chức trong khu vực và quốc tế, mở rộng quan hệ song phƣơng và đa phƣơng với nhiều nƣớc trên thế giới. Đối với một nƣớc đang ở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nhƣ Việt Nam, quá trình hội nhập kinh tế có vai trò hết sức quan trọng, nó đem đến những cơ hội phát triển, là động lực để các doanh nghiệp tiến hành tự đổi mới tổ chức sản xuất, kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của mình đồng thời thu hút thêm vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó nó còn đặt ra hàng loạt những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nhƣ là nguy cơ bị mất thị trƣờng ngay tại “sân nhà” bởi các 2 tập đoàn kinh tế nƣớc ngoài với khả năng tài chính dồi dào, kinh nghiệm quản lý phong phú, lâu năm và nguy cơ chảy máu chất xám, nhân tài. Truyền hình trả tiền là một ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ cũng không nằm ngoài sự ảnh hƣởng chung của quá trình hội nhập này. Hơn nữa ngành Truyền hình đƣợc xem là ngành kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, giống nhƣ các ngành giao thông vận tải, điện lực, xây dựng. nó có vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc.
Vì vậy, Việc đầu tƣ phát triển lĩnh vực truyền hình trả tiền là việc làm cần thiết nhằm phát triển thị trƣờng truyền hình trả tiền nói chung theo hƣớng lành mạnh. Đóng góp tích cực vào tăng trƣởng kinh tế và có ý nghĩa thiết thực trong giai đoạn hiện nay. Với những nhận thức nêu trên, tôi chọn đề tài: “Đầu tƣ phát triển lĩnh vực truyền hình trả tiền tại Đài truyền hình Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình. Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận chung về đầu tƣ phát triển lĩnh vực truyền hình trả tiền.
Chƣơng II: Thực trạng đầu tƣ phát triển lĩnh vực Truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam. Chƣơng III: Các giải pháp đầu tƣ và phát triển lĩnh vực truyền hình trả tiền tại Đài Truyền hình Việt Nam. Để hoàn thành đƣợc đề tài này, trong suốt quá trình thực hiện em luôn nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo TS. Qua đây, em muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo đã giúp đỡ tận tình em trong quá trình hoàn thiện bài viết này.
Tuy nhiên, do trình độ lí luận cũng nhƣ trình độ hiểu biết còn non kém nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp, sự chỉ bảo tận tình của các thầy giáo để em có thể hoàn thiện đề tài của mình. 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN 1. ĐẦU TƢ VÀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN 1.
Khái niệm Đầu tƣ Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tƣ chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tƣ. Theo nghĩa rộng, đầu tƣ là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào dó nhằm thu về cho ngƣời đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong các kết quả đã đạt đƣợc trên đây, những kết quả là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, là nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ đối với ngƣời bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ ngƣời đầu tƣ mà cả nền kinh tế đƣợc thụ hƣởng. Theo nghĩa hẹp, đầu tƣ chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc các kết quả đó. Phạm trù đầu tƣ theo nghĩa hẹp đƣợc gọi là đầu tƣ phát triển.
Từ đó ta có định nghĩa: Đầu tƣ phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dƣỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thƣờng xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các 4 cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Nhƣ vậy, đầu tƣ trên giác độ nền kinh tế là sự hi sinh những giá trị ở hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế. Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện có giữa các cá nhân, các tổ chức không phải là đầu tƣ đối với nền kinh tế. Ngoài ra, có thể hiểu khái niệm đầu tƣ theo quan điểm tái sản xuất mở rộng.
Đầu tƣ thực chất là quá trình chuyển hóa vốn thành các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra các năng lực sản xuất, tạo ra các yếu tố cơ bản, tiên quyết cho quá trình phát triển sản xuất. Đây là hoạt động mang tính chất thƣờng xuyên của mọi nền kinh tế và là cơ sở của mọi sự phát triển và tăng trƣởng kinh tế. Đầu tƣ vào các hoạt động kinh tế luôn biểu hiện dƣới những mục tiêu kinh tế xã hội. Chính vì vậy, các hoạt động đầu tƣ luôn phải vạch ra các mục tiêu cụ thể.
Xác định mục tiêu cụ thể là yếu tố đảm bảo cho hoạt động đầu tƣ đem lại hiệu quả cao. Từ sự phân tích trên, ta thấy bản chất của đầu tƣ là một hoạt động kinh tế, là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở. Đó là tất cả những sự hi sinh tiêu dùng ở hiện tại cả về tiềm lực vật chất, phi vật chất, con ngƣời, tài nguyên, tiềm năng tài chính, phi tài chính, hữu hình và vô hình. với mục đích tạo mới, hoặc tái tạo tƣ bản nhằm hƣớng tới sự tiêu dùng trong tƣơng lai tốt hơn.
Nhƣ vậy, nếu nghiên cứu kĩ quá trình chu chuyển đầu tƣ ta thấy, đầu tƣ là cơ sở hình thành tƣ bản, trong đó có cả tài sản cố định, vốn sản xuất và nguồn nhân lực (tƣ bản con ngƣời). Khái niệm Đầu tƣ phát triển Đầu tƣ phát triển: là loại đầu tƣ tài sản vật chất và sức lao động trong đó ngƣời có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi ngƣời dân trong xã hội. 5 Từ sự phân biệt các loại đầu tƣ trên, ta thấy chỉ có đầu tƣ phát triển mới tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân. Và do đó, đầu tƣ phát triển có những đặc điểm khác biệt so với loại hình đầu tƣ khác, đƣợc thể hiện ở các khía cạnh sau: + Đầu tƣ là hoạt động bỏ vốn nên việc quyết định đầu tƣ thƣờng là quyết định tài chính.
+ Vốn đƣợc hiểu nhƣ là các nguồn lực sinh lợi dƣới các hình thức khác nhau, nhƣng vốn có thể đƣợc xác định dƣới các hình thức tiền tệ. Vì vậy, các quyết định đầu tƣ thƣờng đƣợc xem xét ở phƣơng diện tài chính (tổn phí bao nhiêu, có khả năng thực hiện không? Có khả năng thu hồi vốn không? Mức sinh lợi là bao nhiêu?. Trên thực tế hoạt động đầu tƣ và các quyết định chi tiêu (đầu tƣ) thƣờng đƣợc cân nhắc bởi sự hạn chế của Ngân sách (Nhà nƣớc, địa phƣơng, cá nhân.) và luôn đƣợc xem xét ở khía cạnh tài chính nói trên. Nhiều dự án có thể khả thi ở những phƣơng diện khác (kinh tế-xã hội, môi trƣờng), nhƣng không khả thi về phƣơng diện tài chính và vì thế dự án cũng không thực hiện đƣợc trên thực tế.
+ Đầu tƣ là hoạt động có tính chất lâu dài; tiền, vật tƣ, lao động cần huy động lớn. Khác với hoạt động đầu tƣ thƣơng mại và đầu tƣ tài chính, đầu tƣ phát triển thƣờng có tính chất lâu dài, thời gian từ lúc tiến hành đầu tƣ cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thƣờng đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra.