Chương I: Những vấn đề lý luận về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chương II: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC trong lĩnh vực Quảng cáo. Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC trong lĩnh vực Quảng cáo. Hà Thị Ánh Tuyết 8 Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO TÍNH CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái luận chung về cạnh tranh: 1.1 Khái niệm cạnh tranh và các cấp độ cạnh tranh: Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội.
Trong mọi phương tiện của cuộc sống ý thức vươn lên luôn là yếu tố chủ đạo hướng suy nghĩ và hành động của con người. Hoạt động sản xuất kinh doanh là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, trong đó ý thức vươn lên không đơn thuần là mong muốn đạt được một mục tiêu nào đó mà còn là tham vọng trở thành người đứng đầu. Suy nghĩ và hành động trong sản xuất kinh doanh bị chi phối rất nhiều bởi tính kinh tế khắc nghiệt. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh.
Môi trường hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều lợi ích kinh tế hơn về mình. Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Theo cuốn Mác – Ăng Ghen toàn tập của Các Mác thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Trong sản xuất tư bản chủ nghĩa tồn tại hai loại cạnh tranh là cạnh tranh nội bộ và cạnh tranh giữa các ngành, dù là loại hình cạnh tranh nào đi nữa thì các nhà tư bản cũng luôn đấu tranh gay gắt để lựa chọn những điều kiện thuận lợi nhất cho sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.
Các nhà tư bản tìm cách cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội của hàng hóa đó để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Cạnh tranh trong kinh tế xuất phát từ hai điều kiện cơ bản là phân công lao động xã hội và tính đa nguyên chủ thể lợi ích kinh tế, điều này làm xuất hiện các cuộc đấu tranh giành lợi ích kinh tế giữa người sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các tổ chức trung gian, thực hiện phân phối lại các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Cuộc đấu tranh này dựa trên sức mạnh về tài chính, kỹ thuật công nghệ, chất lượng đội ngũ lao động, quy mô hoạt động của từng chủ thể. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối Hà Thị Ánh Tuyết 9 Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh đa hóa lợi ích, với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận và với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng.
Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành giật khách hàng, thị trường”. Vào nửa sau thế kỷ XX, các nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, P.Samuelson chủ trương phát triển nền kinh tế dựa vào cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Thị trường là nơi người bán và người mua trao đổi với nhau để xác định lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm trao đổi. Tuy nhiên cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật vốn có của nó đòi hỏi phải có sự điều tiết của nhà nước.
Thị trường hoạt động luôn tuân theo quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn cạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng và mở rộng thị trường. Đối với doanh nghiệp cạnh tranh là con dao hai lưỡi. Một mặt nó đào thải các doanh nghiệp có chi phí cao, sản phẩm kém chất lượng vì vậy nó buộc doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của dịch vụ, tổ chức tốt khâu tiêu thụ để tồn tại và phát triển trên thị trường. Theo Michael Porter, cha đẻ của các chiến lược cạnh tranh và lý thuyết lợi thế cạnh tranh hiện đại thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần với bản chất là tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Ông cho rằng: “Cạnh tranh để trở thành giỏi nhất, cạnh tranh để độc nhất vô nhị… Không có công ty tốt nhất bởi cái tốt nhất tùy thuộc vào nhu cầu của từng khách hàng. Vì thế, chiến lược của công ty sẽ không phải trở thành tốt nhất mà phải trở thành độc nhất vô nhị, là khác biệt”. Và các công ty trong quá trình cạnh tranh: “Phải đặt lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, tăng trưởng là mục tiêu số 2”.
Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh và đánh giá nó có thể đứng vững cùng với các nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế, hoặc bằng cách đưa ra các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn so sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm có cùng đặc tính nhưng với dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn. Một định nghĩa khác về cạnh tranh như sau: “ Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản Hà Thị Ánh Tuyết 10 Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi nhuận”. Thực chất cạnh tranh là tranh giành lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào thị trường với tham vọng “ mua rẻ - bán đắt”. Cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường và quy luật cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng nhất chi phối sự hoạt động của thị trường.
Sở dĩ như vậy vì đối tượng tham gia vào thị trường là bên mua và bên bán. Đối với bên mua mục đích là tối đa hóa lợi ích của những hàng hóa mà họ mua được còn với bên bán thì ngược lại phải làm sao để tối đa hóa lợi nhuận trong những tình huống cụ thể của thị trường. Như vậy trong cơ chế thị trường tối đa hóa lợi nhuận đối với các doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng và điển hình nhất. Như vậy dù có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh nhưng tựu chung lại đều thống nhất ở các điểm: Mục tiêu cạnh tranh: Tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương trường đồng thời làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.
Phương pháp thực hiện: Tạo và vận dụng những lợi thế so sánh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác. Thời gian: Trong bất kỳ tuyến thị trường hay sản phẩm nào, vũ khí cạnh tranh thích hợp thay đổi theo thời gian. Chính vì thế cạnh tranh được hiểu là sự liên tục trong cả quá trình. Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống khi cùng quan tâm tới một đối tượng nào đó.Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế lợi hơn trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp. Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học công nghệ cao hơn…để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của khách hàng. Cạnh tranh làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của khách hàng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, những nghiên cứu mới Hà Thị Ánh Tuyết 11 Luận văn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh nhất vào sản xuất; hoàn thiện cách thức tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
Trong cạnh tranh, có ba cấp độ cạnh tranh đó là: Cạnh tranh của nền kinh tế, cạnh tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh sản phẩm dịch vụ.2 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp: 1.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm: Cạnh tranh bằng sản phẩm là cạnh trạnh về chất lượng, dịch vụ, sự đa dạng hóa của các dịch vụ giá trị gia tăng và tính độc đáo của nó. Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường. Chất lượng sản phẩm càng cao tức là mức độ thỏa mãn nhu cầu càng cao, dẫn tới đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng khả năng thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao.
Tức là nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá đã và sẽ có xu hướng nhường vị trí cho sự cạnh tranh bằng chất lượng. Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật. Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt khác nhau tính cơ lý hóa đúng như các chỉ tiêu quy định, hình dáng màu sắc hấp dẫn. Với mỗi loại sản phẩm khác nhau, tuy nhiên vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm.