Chương 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU QUA MẠNG MÁY TÍNH _________________________________________________________________________________________________ 1. VẤN ĐỀ ĐẤU THẦU Trong phần này, NVLV trình bày tổng quan về hoạt động đấu thầu, hệ thống đấu thầu qua mạng máy tính (từ đây, để cho thuận tiện, NVLV xin dùng cụm từ đấu thầu qua mạng thay cho cụm từ đấu thầu qua mạng máy tính ở trên) sẽ triển khai, qua đó để thấy được tầm quan trọng và vị trí của việc ứng dụng hạ tầng khoá công khai trong hệ thống đấu thầu qua mạng. Khái niệm chung về đấu thầu Thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện trong xã hội từ xa xưa.
Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1998) thì đấu thầu được giải thích là việc “đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”. Như vậy bản chất của việc đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnh tranh) để được thực hiện một công việc, một yêu cầu nào đó. Trên thực tế đã tồn tại một số thuật ngữ về đấu thầu trong các văn bản pháp quy khác nhau. Tuy nhiên, bản chất của thuật ngữ về đấu thầu xuất phát từ một thuật ngữ có xuất xứ từ tiếng Anh là “Procurement” (nghĩa là mua sắm).
Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế mở cửa với thế giới thì bắt đầu xuất hiện khái niệm “đấu thầu”. Theo giải thích về thuật ngữ “đấu thầu” trong Luật Đấu thầu của Việt Nam thì đó là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của BMT để thực hiện gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn nhà nước. Kết quả của sự lựa chọn là có hợp đồng được ký kết với các điều khoản quy định chi tiết trách nhiệm của hai bên. Một bên là nhà thầu phải thực hiện các nhiệm vụ như nêu trong HSMT (có thể là dịch vụ tư vấn, cung cấp hàng hoá hoặc xây lắp một công trình.), một bên là CĐT (là cơ quan chủ sở hữu vốn hoặc dùng vốn nhà nước để thực hiện dự án) có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán tiền.
Như vậy thực chất của quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước là một quá trình mua sắm - chi tiêu, sử dụng vốn của Nhà nước. Mục tiêu của đấu thầu Tất cả các hệ thống đấu thầu mua sắm công trong một nền kinh tế hiện đại đều nhằm đạt được tất cả hoặc hầu hết các mục tiêu sau đây: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 a) Công khai, minh bạch Một hệ thống công khai mang đến cơ hội công bằng cho tất cả các nhà thầu hợp lệ trong việc cạnh tranh để cung cấp hàng hóa, công trình và dịch vụ. Một hệ thống minh bạch có các quy định và cơ chế rõ ràng để đảm bảo tuân thủ đúng các quy định đó. b) Kinh tế Chỉ tiêu kinh tế được tập trung chủ yếu vào ”giá cả” nhưng cũng bao gồm các chỉ tiêu khác mà mang đến các lợi ích kinh tế đối với các chủ thể tham gia vào hợp đồng, cụ thể như sau: Phù hợp với mục tiêu (cụ thể là Chất lượng); Đáp ứng tiến độ và khả năng sẵn có của hàng hóa, dịch vụ; khả năng sẵn sàng cung cấp dịch vụ tư vấn, xây dựng công trình; Chi phí cả đời dự án (ví dụ chi phí vận hành, bảo dưỡng); Chi phí phù hợp (ví dụ vận tải và lưu kho); Quản lý chi phí đối với các hoạt động đấu thầu.
Hầu hết các hợp đồng kinh tế không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với giá cả rẻ nhất. Giá trị tốt nhất của đồng tiền (value for money- VFM) cần đạt được các mục tiêu kinh tế và có thể được tổng hợp theo "5 Đúng” (Five rights) sau đây: "Đúng số lượng đối với hàng hóa, Đúng con người đối với tư vấn và xây lắp”; Đúng chất lượng; Đúng giá cả; Đúng địa điểm; Đúng thời gian (tiến độ). c) Hiệu quả Hiệu quả của hoạt động đấu thầu mua sắm công với nghĩa một hệ thống được vận hành đúng cách, giảm thiểu thủ tục hành chính nhưng vẫn đạt được các yêu cầu cơ bản của một gói thầu là các hàng hóa, dịch vụ được mua sắm và các công trình được xây dựng. Quy trình đấu thầu a) Hình thức lựa chọn nhà thầu: Hình thức lựa chọn nhà thầu là cách thức mời nhiều hay ít nhà thầu tham dự đấu thầu đối với một gói thầu tuỳ vào điều kiện cụ thể của gói thầu đó.
Có hình thức lựa chọn nhà thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự như hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 thức đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh; có hình thức chỉ giới hạn một số nhà thầu nhất định tham dự như hình thức đấu thầu hạn chế; có hình thức chỉ mời một nhà thầu tham dự như hình thức chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp. Theo quy định về đấu thầu, có 7 hình thức lựa chọn nhà thầu như sau: - Hình thức đấu thầu rộng rãi: Hình thức đấu thầu rộng rãi (thuật ngữ trong tiếng Anh là Open bidding hoặc Open competitive bidding) là hình thức lựa chọn không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự. Đây là hình thức lựa chọn nhà thầu có tính cạnh tranh cao nhất nên hình thức lựa chọn này phải được áp dụng chủ yếu trong đấu thầu. - Hình thức đấu thầu hạn chế: Hình thức đấu thầu hạn chế (thuật ngữ trong tiếng Anh dùng là Limited bidding hoặc Selective bidding) là hình thức chỉ có một số nhà thầu nhất định được mời tham dự thầu.
Đối với hình thức đấu thầu này, nếu không quản lý chặt chẽ thì rất dễ thành đấu thầu hình thức, biến tướng thành chỉ định thầu. - Hình thức Chỉ định thầu: Chỉ định thầu (thuật ngữ trong tiếng Anh dùng là Direct appointment hoặc direct contracting hoặc procurement from single source) là việc chỉ định trực tiếp một nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu. Hình thức lựa chọn này hoàn toàn không có sự cạnh tranh nên chỉ được áp dụng trong một số trường hợp nhất định. - Hình thức mua sắm trực tiếp: Hình thức mua sắm trực tiếp (thuật ngữ trong tiếng Anh là Repeat order) là việc CĐT mời chính nhà thầu trước đó đã được lựa chọn trúng thầu để thực hiện gói thầu có nội dung tương tự.
Thực chất của việc áp dụng hình thức này là CĐT đã tận dụng kết quả đấu thầu trước đó để tiết kiệm thời gian và chi phí mà vẫn đáp ứng mục tiêu, hiệu quả của công tác đấu thầu. - Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa: Chào hàng cạnh tranh được áp dụng trong mua sắm hàng hóa (thuật ngữ trong tiếng Anh là Shopping in procurement of goods) và chỉ được áp dụng khi gói thầu có giá nhỏ, nội dung mua sắm là hàng hoá thông dụng. - Tự thực hiện: Tự thực hiện (thuật ngữ trong tiếng Anh là Force account) là hình thức mà CĐT sử dụng nhân công và phương tiện của mình để thực hiện gói thầu thuộc dự án của mình. Hình thức này được áp dụng khi CĐT có đủ năng lực và kinh nghiệm thực hiện gói thầu thuộc dự án do mình quản lý và sử dụng.
- Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt: Với những gói thầu không thể áp dụng một trong 6 hình thức lựa chọn nhà thầu đã nêu ở trên do có những đặc thù riêng biệt thì CĐT phải lập phương án lựa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 chọn nhà thầu, bảo đảm tính cạnh tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Quy trình đấu thầu tổng quát cho một cuộc đấu thầu Quy trình đấu thầu tổng quát cho một cuộc đấu thầu bao gồm 7 bước bắt đầu tư bước Chuẩn bị đấu thầu, tổ chức đấu thầu, đánh giá HSDT, thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu, thông báo kết quả đấu thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng và kết thúc là bước ký kết hợp đồng. Tuỳ theo gói thầu được thực hiện theo hình thức nào trong 7 hình thức nêu trên mà có các thủ tục phải thực hiện trong từng bước khác nhau. Hình vẽ dưới đây thể hiện một quy trình đấu thầu gần như đầy đủ nhất cho một gói thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu: Hình 1.1 Quy trình đấu thầu tổng quát TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
NHU CẦU VỀ ĐẤU THẦU QUA MẠNG MÁY TÍNH Trong phần này, NVLV trình bày về sự cần thiết phải chuyển đổi phương thức thực hiện đấu thầu thủ công bằng văn bản giấy tờ sang thực hiện trên mạng. Sự cần thiết nằm ở Xu hướng phát triển và ứng dụng CNTT nói chung, TMĐT nói riêng trong hoạt động của Chính phủ, những bất cập của đấu thầu thủ công và xu thế tất yếu xây dựng đấu thầu qua mạng của các nước trên thế giới. Xu hướng ứng dụng CNTT trong hoạt động của Chính phủ TMĐT đã và đang trở thành hình thức giao dịch trao đổi trong thế kỷ 21. TMĐT không chỉ giải quyết những yêu cầu thiết yếu, cấp bách trên các lĩnh vực như hệ thống giao dịch hàng hoá, điện tử hoá tiền tệ và phương án an toàn thông tin., mà hoạt động thực tế của nó còn tạo ra những hiệu quả và lợi ích mà mô hình phát triển của thương mại truyền thống không thể sánh kịp (ví dụ, trường hợp hiệu sách Amazon, trang web đấu giá eBay).
Chính vì tiềm lực hết sức to lớn của TMĐT nên chính phủ các nước đều hết sức chú trọng vấn đề này. Nhiều nước đang có chính sách và kế hoạch hành động để đẩy mạnh sự phát triển của TMĐT ở nước mình, nhằm nắm bắt cơ hội của tiến bộ công nghệ thông tin nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước, giành lấy vị trí thuận lợi trong xã hội thông tin tương lai. TMĐT tại Việt Nam còn chậm phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu mong muốn của thực tế. Theo đánh giá và phân tích của Vụ TMĐT - Bộ Công thương về nguyên nhân lý giải cho việc triển khai ứng dụng TMĐT chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, trở ngại về nhận thức xã hội được các doanh nghiệp xếp lên đầu bảng.
Theo khá sát là các trở ngại về hệ thống thanh toán, môi trường pháp lý và tập quán kinh doanh. Trở ngại về hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông đã tụt xuống cuối danh sách các vấn đề đáng quan ngại đối với doanh nghiệp khi triển khai ứng dụng TMĐT.