CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong cuộc sống ngày nay ứng dụng công nghệ thông tin vào đời sống như là một yếu tố tất yếu cho việc phát triển thời kỳ công nghệ 4.0 và nó đóng vai trò cho việc phát triển của đất nước, dân tộc và toàn thế giới. Internet là một trong những sản phẩm có giá trị hết sức lớn lao và ngày càng trở nên không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày. Qua đó có thể thấy Internet giúp chúng ta xử lý các công việc nhanh gọn hơn so với các cách làm truyền thống.
Mà qua đó chung ta chỉ cần ngồi ở nhà cùng với một chiếc srmatphone hay máy tính trên tay có kết nối Internet là có thể đặt các loại dịch vụ khác nhau mà mình mà không cần đến trực tiếp tại nơi cung cấp dịch vụ và chờ đến lượt qua đó giảm bớt đi thời gian chờ đợi không cần thiết. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngày nay việc khám chữa bệnh là một trong những nhu cầu rất cần thiết nhưng việc tốn thời gian làm các thủ tục trước khi khám bệnh là một vấn đề gây nhức nhối đối với mọi người. So với việc phải đến cơ sở y tế làm thủ tục và chờ đợi một khoảng thời gian khá lâu thì việc chỉ cần ngồi ở nhà và với thiết bị có kết nối Internet để đặt lịch khám bệnh thì sẽ rút ngắn được khoảng thời gian chờ đợi. Hơn thế nữa, với lợi thế của công nghệ kỹ thuật số nên việc truyền tải thông tin nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng và chính xác.
Do đó em đã quyết định chọn đề tài “Xây dựng hệ thống website đặt lịch khám bệnh” với mong muốn giúp người sử dụng có nhu cầu đặt lịch tiết kiệm được thời gian thay vì chờ đợi, cũng như giúp bản thân phát huy khả năng ứng dụng các công nghệ trong việc phát triển website chuyên nghiệp. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Lý thuyết Nắm vững mô hình, cách thức hoạt động của mô hình MVC trong việc thiết kế webiste Nắm vững mô hình B2B trong kinh doanh.2 Công nghệ Nắm vững kiến thức, công nghệ với ngôn ngữ, HTML, CSS Javascript trong thiết kế cũng như lập trình website. Nắm vững được thư viện Express để viết các API Kết nối dữ liệu và quản trị được hệ CSDL MySQL Quản lý được source code của dự án với GitHub Triển khai hệ thống lên doamin 1 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
Khảo sát thực tế Khảo sát nhu cầu, yêu cầu của khách hàng để lấy thông tin, số liệu qua đó phát triển các chức năng theo số đông của khách hàng đã đóng góp bằng cách: + Thu thập bằng biện pháp dùng form khảo sát để thu thập các thông tin của người có nhu cầu sử dụg đăng ký. + Kết hợp phỏng vấn người dùng có mong muốn sử dụng một website đặt lịch khám bệnh thì có những chức năng gì là cần thiết. Tham khảo các webiste trên mạng có đề tài tương tự cũng như tự bản thân trải nghiệm các website đó và sau đó đúc kết được những gì cốt lõi nhất và biến cái của người khác thành cái của bản thân. Lý thuyết Nghiên cứu cách thức hoạt động của mô hình MVC cũng như mô hình B2B qua các video, bài viết trên mạng Internet như: Youtube Group Facebook Trên trang https://stackoverflow.
Công nghệ Đọc tài liệu về cách thức, cơ chế hoạt động của hệ quản trị CSDL MySQL. Đọc tài liệu các framework và các thư viện như: Bootstrap, Jquery để viết giao diện website và sử dụng thư viện Express để xây dựng backend. PHẠM VI ỨNG DỤNG Đối tượng sử dụng: Tất cả mọi người có nhu cầu đặt lịch khám. Môi trường ứng dụng: Trên môi trường internet.
Chức năng chính: Đăng nhập Đăng ký Thêm, sửa, xoá, người dùng Đặt lịch khám bệnh Chức năng quản trị dành cho admin Thêm, sửa, xoá bác sĩ Thêm, sửa, xoá chuyên khoa Thêm, sửa, xoá phòng khám Thêm, sửa, xoá cẩm nang Chức năng thống kê Quản lý lịch khám bệnh của bệnh nhân 2 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. LÝ THUYẾT SỬ DỤNG 2. Mô hình MVC MVC là từ viết tắt bởi 3 từ Model – View – Controller. Đây là mô hình thiết kế sử dụng trong kỹ thuật phần mềm.
Mô hình source code thành 3 phần, tương ứng mỗi từ. Mỗi từ tương ứng với một hoạt động tách biệt trong một mô hình. Mô hình MVC Model (M): Là bộ phận có chức năng lưu trữ toàn bộ dữ liệu của ứng dụng. Bộ phận này là một cầu nối giữa 2 thành phần bên dưới là View và Controller.
Model thể hiện dưới hình thức là một cơ sở dữ liệu hoặc có khi chỉ đơn giản là một file XML bình thường. Model thể hiện rõ các thao tác với cơ sở dữ liệu như cho phép xem, truy xuất, xử lý dữ liệu,… View (V): Đây là phần giao diện (theme) dành cho người sử dụng. Nơi mà người dùng có thể lấy được thông tin dữ liệu của MVC thông qua các thao tác truy vấn như tìm kiếm hoặc sử dụng thông qua các website. Thông thường, các ứng dụng web sử dụng MVC View như một phần của hệ thống, nơi các thành phần HTML được tạo ra.
Bên cạnh đó, View cũng có chức năng ghi nhận hoạt động của người dùng để tương tác với Controller. Tuy nhiên, View không có mối quan hệ trực tiếp với Controller, cũng không được lấy dữ liệu từ Controller mà chỉ hiển thị yêu cầu chuyển cho Controller mà thôi. Ví dụ: Nút “delete” được tạo bởi View khi người dùng nhấn vào nút đó sẽ có một hành động trong Controller. Controller (C):Bộ phận có nhiệm vụ xử lý các yêu cầu người dùng đưa đến thông qua view.
Từ đó, C đưa ra dữ liệu phù hợp với người dùng. Bên cạnh đó, Controller còn có chức năng kết nối với model. Luồng tương tác giữa các thành phần trong MVC. Luồng tương tác của mô hình: Người dùng gửi resquest đến server thì hệ thống sẽ giao cho Controller xử lý Controller sẽ lấy dữ liệu từ Model sau khi lấy xong dữ liệu thì Controller sẽ gửi dữ liệu lên View, View sẽ trả kết quả từ về cho người dùng.
Ví dụ: Chức năng thêm bài viết mới trong trang quản trị website. Nơi đây có 2 trường nhập về tiêu đề và nội dung bài viết, thì trong đó: View sẽ hiển thị ra phần nhập form tiêu đề và nội dung. Controller lấy dữ liệu từ 2 trường và gửi tới Model. Model lúc này sẽ nhận dữ liệu từ Controller để lưu trữ trong cơ sở dữ liệu.
Mỗi bộ phận thực hiện chức năng nhất định, nhưng chúng có sự thống nhất, liên kết với nhau tạo nên mô hình MVC [10].2 Mô hình thương mại điện tử a. Mô hình B2B Mô hình kinh doanh B2B (từ viết tắt của cụm từ Business to Business) dùng để chỉ hình thức kinh doanh, buôn bán giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp, thông thường là mô hình kinh doanh thương mại điện tử và các giao dịch diễn ra chủ yếu trên các kênh thương mại điện tử hoặc sàn giao dịch điện tử, một số giao dịch phức tạp hơn cũng có thể diễn ra bên ngoài thực tế, từ lập hợp đồng, báo giá cho đến mua bán sản phẩm. Mô hình B2B trong thương mại điện tử B2B là khái niệm tồn tại từ khá lâu trước đây và được khá nhiều doanh nghiệp ưa chuộng bởi việc giao dịch và hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau thường mang lại lợi ích đa dạng và hiệu quả nhanh hơn, các doanh nghiệp cũng nhanh chóng khẳng định chỗ đứng trên thị trường thông qua hình thức hợp tác và làm việc cùng nhau [6]. Mô hình B2C B2C là thuật ngữ mô tả giao dịch giữa các doanh nghiệp với người tiêu dùng.
Đây là quá trình bán sản phẩm và dịch vụ trực tiếp giữa những người tiêu dùng là người cuối cùng mua sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp bán trực tiếp cho người tiêu dùng có thể được gọi là các doanh nghiệp B2C. Mô hình B2C trong thương mại điện tử 5 B2C trở nên vô cùng phổ biến trong thời gian bong bóng dot-com cuối thập niên 90 khi nó chủ yếu được dùng để chỉ các nhà bán lẻ trực tuyến bán sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng thông qua mạng Internet. Là một mô hình kinh doanh, B2C có sự khác biệt đáng kể so với mô hình B2B, trong đó chỉ sự giao dịch giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp với nhau.
B2C là một trong những mô hình bán hàng phổ biến nhất và được biết đến rộng rãi trên thế giới. B2C theo truyền thống được gọi là mua sắm tại các trung tâm thương mại, ăn uống tại nhà hàng, trả tiền cho việc xem phim. Tuy nhiên, sự trỗi dậy của Internet đã tạo ra một kênh kinh doanh B2C hoàn toàn mới dưới hình thức thương mại điện tử hoặc bán hàng hóa và dịch vụ qua Internet. Bất kì doanh nghiệp nào phụ thuộc vào doanh số B2C đều phải duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng của họ để đảm bảo họ sẽ quay lại.
Không giống như B2B có các chiến dịch tiếp thị hướng đến việc chứng minh giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ, các công ty dựa vào B2C phải đưa ra những hoạt động tiếp thị hướng đến cảm xúc của khách hàng [5]. CÔNG NGHỆ SỬ DỤNG 2. HTML HTML là chữ viết tắt của Hypertext Markup Language. Nó giúp người dùng tạo và cấu trúc các thành phần trong trang web hoặc ứng dụng, phân chia các đoạn văn, heading, links, blockquotes.
HTML không phải là ngôn ngữ lập trình, đồng nghĩa với việc nó không thể tạo ra các chức năng “động” được. Nó chỉ giống như Microsoft Word, dùng để bố cục và định dạng trang web [4]. Ngôn ngữ lập trình HTML 6 b. CSS CSS là ngôn ngữ tạo phong cách cho trang web – Cascading Style Sheet language.
Nó dùng để tạo phong cách và định kiểu cho những yếu tố được viết dưới dạng ngôn ngữ đánh dấu, như là HTML. Nó có thể điều khiển định dạng của nhiều trang web cùng lúc để tiết kiệm công sức cho người viết web. Nó phân biệt cách hiển thị của trang web với nội dung chính của trang bằng cách điều khiển bố cục, màu sắc. CSS được phát triển bởi W3C (World Wide Web Consortium) vào năm 1996, vì một lý do đơn giản.
HTML không được thiết kế để gắn tag để giúp định dạng trang web. chỉ có thể dùng nó để “đánh dấu” lên site. Những tag như <font> được ra mắt trong HTML phiên bản 3.2, nó gây rất nhiều rắc rối cho lập trình viên.