phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo thì luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của mô hình liên kết đào tạo nguồn nhân lực công nghệ giữa nhà trƣờng với doanh nghiệp. Thực trạng của việc liên kết đào tạo nguồn nhân lực công nghệ giữa nhà và doanh nghiệp tại trƣờng đại học Công nghệ Tp. Các giải pháp hoàn thiện mô hình dự án liên kết giữa nhà trƣờng với doanh nghiệp về đào tạo nhân lực công nghệ của trƣờng đại học Công nghệ Tp.
z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ GIỮA NHÀ TRƢỜNG VỚI DOANH NGHIỆP 1. Mộ t số khái niệ m cơ bả n 1. Nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác:vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên” [35]. Theo tổ chức lao động Quốc tế thì cho rằng: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”.
Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: “Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển”. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động. Kinh tế phát triển cho rằng: “nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động, nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người z trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động.
Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…”1 [12;13;36] Từ những quan niệm trên, tiếp cận dƣới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: “nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''tài nguyên đặc biệt'', một nguồn lực của sự phát triển kinh tế.
Nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư có tinh chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững”2 [30;35;36]. Nguồn nhân lực Theo tổ chức lao động quốc tế thì: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
Nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) có thể đƣợc hiểu theo những cách khác nhau. Theo cuốn KH&CN Việt Nam 2003 và cuốn “ C m 1 Trung Đức (2008), Thông tin và Phát triển, Khoa học và Công nghệ châu Á một xu thế mới, số 6/2008, tr. 16-18 2 Tạp chí công nghiệp (2007), Nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình hội nhập, số 4/2007, tr. 52-57 z nang về đo lƣờng nguồn nhân lực KH&CN” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), thì nhân lực KH&CN bao gồm những ngƣời đáp ứng đƣợc một trong những điều kiện sau đây [19]: 1) Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN; 2) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; 3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương.
Theo Hƣớng dẫn thống kê nghiên cứu và triển khai (NC&TK) của OECD (C m nang FRASCATI), nhân lực NC&TK bao gồm những ngƣời trực tiếp tham gia vào hoạt động NC&TK hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động NC&TK. Nhân lực NC&TK đƣợc chia thành 3 nhóm [12;13]: - Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu). Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song lại làm các công việc tƣơng đƣơng nhƣ nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản ph m và quy trình mới, tạo ra phƣơng pháp và hệ thống mới. - Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương.Nhóm này bao gồm những ngƣời thực hiện các công việc đ i hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN.
Họ tham gia vào NC&TK bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phƣơng pháp vận hành dƣới sự giám sát của các nhà nghiên cứu. - Nhóm 3: Nhân viên phụ trợ trực tiếp NC&TK. Bao gồm những ngƣời có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn ph ng tham gia vào các dự án NC&TK. Trong nhóm này bao gồm cả những ngƣời làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc NC&TK của các tổ chức NC&TK.
Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này là [14;31]: z - “Tổng số nhân lực có trình độ” cần phải được xem xét như một đại lượng đo, bởi qua đó có thể biết được tổng số những người được đào tạo để có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư, bất kể hiện tại họ có làm việc theo năng lực này hay không. Nói cách khác, đại lượng này thể hiện cho tiềm năng của một quốc gia về nhân lực KH&CN. Tổng số nhân lực có trình độ chính là chỉ số nhân lực KH&CN.3 - “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước. Trên cơ sở này, UNESCO đã đƣa ra sự phân biệt tƣơng đối giữa các khái niệm nhân lực trong lĩnh vực KH&CN nói chung nhƣ sau: Nhân lực trong lĩnh vực KH&CN không đơn giản là phép tính cộng tổng đầu ngƣời, mà bên cạnh việc đếm đầu ngƣời cần phải tính đến yếu tố khác nhƣ: Quy đổi tƣơng đƣơng thời gian làm việc đầy đủ và các đặc trƣng của họ.
Hiện nay, nguồn nhân lực KH&CN nƣớc ta gồm các thành phần chủ yếu sau đây: - Nhân lực KH&CN bao gồm: 1) Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng, có thể làm việc hoặc không làm việc trong một ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ; 2) Chƣa tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng, nhƣng hiện làm việc trong một ngành, lĩnh vực KH&CN đ i hỏi trình độ tƣơng đƣơng. - Hoạt động KH&CN bao gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. - Nhân lực KH&CN làm công tác nghiên cứu sáng tạo: Bao gồm nhân lực tham gia nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng (thƣờng có trình độ đào tạo Tiến sĩ, Thạc sĩ, Đại học); ngƣời làm các công việc phục vụ và hỗ trợ nghiên cứu (chu n bị thí nghiệm, đo đạc và lấy số liệu,…). 3 Tạp chí công nghiệp (2007), Nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình hội nhập, số 4/2007, tr.
52-57 z - Nhân lực KH&CN làm công tác giảng dạy: Bao gồm cán bộ giảng dạy các bộ môn khoa học và công nghệ, đào tạo nghề (công nhân kỹ thuật, trung cấp), thƣờng có trình độ đào tạo từ đại học trở lên; ngƣời làm các công việc phục vụ và hỗ trợ giảng dạy. - Nhân lực KH&CN làm công tác quản lý: Bao gồm những cán bộ quản lý KH&CN, thƣờng có trình độ đào tạo từ đại học trở lên. - Nhân lực KH&CN làm công tác sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: Bao gồm các kỹ sƣ, cán bộ kỹ thuật, nghệ nhân, công nhân lành nghề. Lực lƣợng KH&CN này trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất, dịch vụ, kinh doanh,…[13].
Quản trị nguồn nhân lực Quản trị nhân sự là công việc khó khăn hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh do chính bản chất của con ngƣời. Ngƣời lao động có năng lực và đặc điểm cá nhân khác nhau, có nhận thức và đánh giá khác nhau đối với các quyết định quản trị hành vi của họ có thể thay đổi tùy thuộc vào chính bản thân họ và sự tác động của môi trƣờng xung quanh. Quản trị là những tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý đối với các khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu cao nhất của tổ chức. Quản trị nhân sự là việc hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm soát các hoạt động của con ngƣời trong doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.