CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giảng viên Theo Từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê chủ biên thì: “GV là người giảng dạy ở đại học, cao đẳng hay lớp huấn luyện cán bộ”[28, tr 243]. Như vậy, theo cách hiểu thông thường giảng viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng.
Theo Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 thì giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học, để phân biệt với giáo viên – người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, cụ thể trong Luật giáo dục đã quy định như sau: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục ĐH gọi là giảng viên” [14,tr25]. Như vậy, với nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau, song có thể thống nhất định khái niệm về giảng viên như sau: Giảng viên là nhà giáo, người làm nhiệm vụ giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề. Ngoài ra, giảng viên còn được định nghĩa theo 3 chức năng chính là: nhà giáo - nhà khoa học - nhà cung ứng dịch vụ xã hội. * Giảng viên – Nhà giáo Đây là vai trò truyền thống, nhưng quan trọng và tiên quyết đối với một giảng viên.
Một giảng viên giỏi trước hết phải là người thầy giỏi. Thế nào là một người thầy giỏi? Đó là một người uyên bác về kiến thức chuyên ngành mà mình giảng dạy? – Đúng nhưng chưa đủ, uyên bác về kiến thức chuyên môn mới chỉ là điều kiện cần, chứ chưa phải điều kiện đủ cho một thầy giáo giỏi. Theo các nhà giáo dục thế giới thì một giảng viên toàn diện là người có (được trang bị) 4 nhóm kiến thức/ kỹ năng sau: Kiến thức chuyên ngành; Kiến 9 thức về chương trình đào tạo; Kiến thức và kỹ năng về dạy học; Kiến thức về môi trường giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục… Đây có thể coi là khối kiến thức cơ bản nhất làm nền tảng cho các hoạt động dạy và học. Chỉ khi mỗi giảng viên hiểu rõ được các sứ mệnh, giá trị cốt lõi, và các mục tiêu chính của hệ thống giáo dục và môi trường giáo dục thì việc giảng dạy mới đi đúng định hướng và có ý nghĩa xã hội.
*Giảng viên – nhà khoa học Ở vai trò thứ hai này, giảng viên thực hiện vai trò khoa học với chức năng giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải. Nghiên cứu khoa học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về thực tiễn đời sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng ( cộng đồng khoa học, xã hội nói chung, trong nước và quốc tế) là ba chức năng chính của một nhà khoa học. Từ đây có hai xu hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu cơ bản ( basic research) và nghiên cứu ứng dụng ( applied research). Khác với nghiên cứu cơ bản mang tính giải thích và dự báo các vấn đề chưa khai phá của thiên nhiên và xã hội, nghiên cứu ứng dụng là loại nghiên cứu hướng đến việc ứng dụng các kết quả của nghiên cứu cơ bản vào giải quyết các vấn đề cụ thể của xã hội.
Thông thường nghiên cứu cơ bản được coi là vai trò chính xác của các giảng viên đại học. Còn nghiên cứu ứng dụng mang tính công nghệ thường là kết quả của mối liên kết giữa các nhà khoa học và nhà ứng dụng ( các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội). Do vậy nghiên cứu ứng dụng thường có màu sắc của các dự án tư vấn được đặt hàng bởi cộng đồng doanh nghiệp ( và do doanh nghiệp tài trợ). Nghiên cứu khoa học phải đi kèm với công bố kết quả nghiên cứu.
Điều này có hai ý nghĩa: Thứ nhất, công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành uy tín chính là thước đo chất lượng có ý nghĩa nhất đối với một công trình nghiên cứu. Thứ hai, chỉ khi được công bố rộng rãi và đi vào ứng dụng nghiên cứu khoa học mới hoàn thành sứ mệnh xã hội của mình. Và như vậy trong vai trò nhà khoa học, giảng viên đại học không chỉ phải nắm 10 vững kiến thức chuyên môn, phương pháp nghiên cứu mà còn phải có kỹ năng viết báo khoa học. *Giảng viên – nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội Đây là một vai trò mà rất nhiều giảng viên đại học Việt Nam đang thực hiện – nó cũng là một vai trò mà xã hội đánh giá cao và kỳ vọng ở các giảng viên.
Ở vai trò này, giảng viên cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho sinh viên, cho các tổ chức xã hội – đoàn thể, cho cộng đồng và cho xã hội nói chung. Cụ thể đối với nhà trường và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác quản lý, công việc hành chính, tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho sinh viên… Với ngành của mình, giảng viên làm phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự vào tổ chức các hội thảo khoa học. Đối với cộng đồng, giảng viên trong vai trò của một chuyên gia cũng thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung cấp thông tin, viết báo. Trong chức năng này, giảng viên đóng vai trò là cầu nối giữa khoa học và xã hội, để đưa nhanh các kiến thức khoa học vào đời sống xã hội.
Viết báo thời sự ( khác với báo khoa học) là một chức năng khá quan trọng và có ý nghĩa lớn trong việc truyền bá kiến thức khoa học và nâng cao dân trí. Với chức năng là Nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà cung ứng dịch vụ người giảng viên phải đầu tư tỷ lệ thời gian nhất định để thực hiện. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau nhưng thực tế không có câu trả lời chính xác. Tuy vậy, dù trong quan điểm nào thì giữa quan điểm Giảng viên là nhà Giảng dạy – Nghiên cứu khoa học – Dịch vụ đều thể hiện rõ nét vì giữa chúng có mối liên hệ tương hỗ hết sức chặt chẽ, cái này bổ sung và làm phong phú cái kia.
Thực hiện đầy đủ và toàn diện cả ba mối quan hệ nêu trên quả là một thách thức lớn không chỉ cho từng giảng viên mà cho cả hệ thống giáo dục. Nhưng nó lại là cái đích để phấn đấu và đầu tư. Hiện nay và trong tương lai gần một yếu tố quan trọng nữa cũng cần phải được đưa vào mô hình Quốc tế 11 hóa. Nghĩa là vai trò của các giảng viên đại học hay các trường đại học sẽ không còn giới hạn trong phạm vi quốc gia, mà tầm hoạt động phải hướng đến một không gian toàn cầu, phi biên giới.
Điều này là hiện thực khi hợp tác, chuyên môn hóa và giao lưu kinh tế - xã hội đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và ngày càng mãnh liệt. Nhu cầu phát triển đòi hỏi lực đẩy lớn từ hệ thống giáo dục. Xã hội hội nhập toàn cầu thì giáo dục không thể không hội nhập nếu không muốn nói là giáo dục phải đi trước trong hội nhập. Từ các chức năng trên, theo điều 55 Luật giáo dục đại học, các giảng viên có những nhiệm vụ cơ bản sau đây [15, tr27]: - Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo.
- Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo. - Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy. - Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của giảng viên. - Tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học.
- Tham gia quản lý và giám sát cơ sở giáo dục đại học, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác. Đội ngũ giảng viên Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Văn Đạm (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 1993) thì “Đội ngũ được hiểu là tập hợp những người có chung hành động, nhiệm vụ thành một tổ chức hướng đạt tới mục tiêu chung” [19,tr102]. Với cách hiểu trên thì, đội ngũ giảng viên có thể hiểu là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học (trường cao đẳng và trường đại học), họ gắn kết với nhau bằng hệ 12 thống mục tiêu giáo dục; cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục người học, cùng chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính chất hành chính của ngành giáo dục và nhà nước. Như vậy, khi đề cập đến đội ngũ nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng là nói đến quy mô, cơ cấu, sự gắn kết giữa những con người trong một tổ chức có chung nhiệm vụ, hành động hướng tới những mục tiêu nhất định.
Đội ngũ giảng viên của một cơ sở đào tạo chính là số lượng, cơ cấu giảng viên của cơ sở đó hợp thành tổ chức để thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu chung của cơ sở giáo dục, đào tạo đó. Đào tạo giảng viên 1. Đào tạo trong tổ chức Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người học có thêm tri thức, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ và công việc của mình. Theo quy mô và phạm vi đào tạo có thể phân thành đào tạo của hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân và đào tạo trong tổ chức (các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện.
Với phạm vi đặt ra, trong luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu nội dung đào tạo trong phạm vi một tổ chức, cụ thê là những vấn đề lý thuyết và thực tế liên quan đến đào tạo giảng viên của các trường đại học và cao đẳng. Vậy đào tạo trong tổ chức là gì? Giữa đào tạo trong tổ chức có gì khác biệt so với đào tạo của hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân?