CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TÁCĐÀO TẠO, BÒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu Trong những năm gần đây,các van dé liên quan đến kiểm toán nói chung, kiểm toán nhà nước nói riêng, đặc điểm của hoạt động kiểm toán nhà nước và vai trò của cán bộ công chức KTNN đối với quản lý tài chính công trong công cuộc chống tham nhũng đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập. Các công trình nghiên cứu đó đều nói lên tam quan trọng của hoạt động kiểm toán, công tác kiểm toán nhà nước và những người trực tiếp làm công tác kiểm toán trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời đưa ra những kiến nghị khoa học về phương hướng và giải pháp đối với van dé này. Các công trình khoa học ở trong nước liên quan đến luận văn được chia làm hai nhóm chủ yếu sau: "Chiến lược phát triển cơ quan Kiểm toán nhà nước đến năm 2020, phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” của GS, TS Vương Đình Huệ (.),bai viết đánh giá cao việc Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Chiến lược phát triển cơ quan Kiểm toán nhà nước đến năm 2020, tạo cơ sở pháp lý quan trọng đề nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan Kiểm toán nhà nước, góp phần phát huy chức năng kiểm tra, kiểm soát tài chính nhà nước, phục vụ tốt hơn sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quan lý, điều hành của Nhà nước và quyền làm chủ, giám sát của nhân dân, đáp ứng yêu cầu đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.
Bài viết đề cập toàn điện các mục tiêu chiến lược và giải pháp phát triển cơ quan Kiểm toán nhà nước đến năm 2020; trong đó, có chiến lược và giải pháp vê phát triên nguôn nhân lực của cơ quan Kiêm toán nhà nước theo hai giai đoạn (từ 2010 đến 2015 và từ 2016 đến 2020). Đây là những định hướng mang tính chiến lược cho việc phát triển đội ngũ cán bộ công chứccủa cơ quan Kiểm toán nhà nướctrong ngắn hạn và trung hạn. “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, boi dưỡng công chức, kiểm toán viên theo định hướng Chiến lược phát triển cơ quan Kiểm toán nhà nướcđến năm 2020” của GS, TS Đoàn Xuân Tiên (.), đã làm rõ thực trạng về công tác dao tạo, bồi dưỡng công chức, kiểm toán viên của cơ quan Kiểm toán nhà nước 2005-2010 và những khó khăn, bất cập, nguyên nhân để từ đó đề ra các giải pháp khá toàn diện về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡngcông chức, kiểm toán viên nhà nước theo định hướng chiến lược phát triển cơ quan Kiểm toán nha nướcđến năm 2020. “Giải pháp tăng cường chất lượng công tác kiểm soát đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên nhà nước” của Đặng Văn Thanh [6], đã đánh giá một cách khách quan, đầy đủ thực trạng kiểm soát đạo đức nghé nghiệp kiểm toán viên nhà nước và vai trò của tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam; hình thành lý luận, phương pháp luận, định hướng và chính sách, giải pháp kiểm soát đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên nhà nước và vai trò của tô chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam phục vụ có hiệu quả tiễn trình đổi mới đất nước.
Dé tai cũng khang định kiêm toán viên là những người kiểm tra, đánh giá thông tin nên phải có một trình độ chuyên môn nhất định. Bởi vậy, khi tiễn hành các cuộc kiểm toán, co quan Kiểm toán nhà nướcphải chia ra các bộ phận, mỗi bộ phận đi sâu vào từng lĩnh vực. kiểm toán viên nhà nước phải có những hiểu biết về pháp luật, phải có nhân cách về chính trị. Trước một số liệu, thông tin, một ý kiến không thuần túy là vấn đề chuyên môn mà còn gắn nó với điều kiện, tình hình thực tế.
Vì thế, kiểm toán viên nhà nước ngoài năng lực, kỹ năng chuyên môn phải có đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp. Để đảm bảo cung cấp các dịch vụ cho Nhà nước có chất lượng cao nhất, kiểm toán viên nhà nước cần phải tuân thủ các yêu cầu có tính nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp. Kiểm toán viên nhà nước phải luôn duy trì được tính độc lập, trung thực, khách quan trong quá trình kiểm toán. “Ngành kiểm toán đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực đạt trình độ quốc tế” của Bùi Văn Mai [2], đã khang định ngành kiểm toán của Việt Nam phát triển nhanh chóng: nguồn nhân lực kiểm toán Việt Nam chưa phải là giỏi nhưng cũng không phải là quá chênh lệch về chất lượng so với các nước trong khu vực.
Vấn đề đặt ra là trình độ phát triển của ngành kiểm toán có phù hợp với thị trường hay không. Bài phỏng van cũng dé cập đến van đề hiện nay nguồn nhân lực đáp ứng cho kiểm toán, đặc biệt là nhân lực đạt trình độ quốc tế đang là vấn đề khó khăn và cũng là cấp thiết nhất đối với ngành kiểm toán Việt Nam và van dé dao tao nguồn nhân lực phục vụ cho kiểm toán của Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của quốc tế. Nội dung bài phỏng vấn cũng đề cập đến việc trong thời gian tới dé chất lượng kiểm toán được nâng cao cần hợp tác với các tô chức hành nghề kiểm toán của thế giới, tăng cường hợp tác với các trường đại học nước ngoài nhằm đây mạnh việc dao tạo nguồn nhân lực cho kiểm toán dé các bên có thể công nhận trình độ và chứng chỉ hành nghề của nhau. Tuy nhiên, bài phỏng vấn chủ yếu đề cập đến lĩnh vực kiểm toán độc lập (các doanh nghiệp kiểm toán), chưa quan tâm đến lĩnh vực kiểm toán nhà nước.
Ngoài ra, còn nhiều dé tài khoa học của cơ quan Kiểm toán nhà nướcđề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về tổ chức hoạt động của cơ quan Kiểm toán nhà nước, về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Kiểm toán nhà nước; nhiều tai liệu của các dự án Hỗ trợ Ky thuật của co quan Kiểm toán nhà nướccung cấp rất nhiều nguồn tài liệu để tác giả có thê tham khảo và hình thành nên những ý tưởng mới, đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng dao tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức KTNN đáp ứng được nhiệm vụ được giao trong giai đoạn 2017-2020. Trên đây là các công trình nghiên cứu tiêu biéu trong nước có liên quan đến đề tài luận văn. Nhìn chung các công trình đã công bố nêu trên có những đóng góp quan trọng trên những khía cạnh nhất định trong việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm toán, kiểm toán nhà nước và cán bộ công chức KTNN trong những giai đoạn nhất định, có thể tham khảo, kế thừa có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu luận văn. Tình hình nghiên cứu nước ngoài "Nâng cao năng lực cho các cơ quan Kiểm toán nhà nước" của Tô chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI), đã đề cập đến yêu cầu cần nâng cao năng lực cho các cơ quan Kiểm toán tối cao và làm thế nào dé nang cao nang luc ké ca vé thé ché va con người thực hiện nhiệm vụ kiểm toán.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới đề cập đến việc nâng cao năng lực cho các cơ quan Kiểm toán nhà nước ở tầm vĩ mô mang tính nguyên tắc chung theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế (địa vị pháp lý, tính độc lập của cơ quan kiểm toán tối cao), chưa đi sâu phân tích về những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức của các cơ quan kiểm toán tối cao của các nước trên thế giới. “Quản lý nguồn nhân lực" của INTOSAI, đây là hướng dẫn do Nhóm làm việc tăng cường năng lực cho các cơ quan Kiểm toán nhà nướccủa INTOSAI ban hành vào năm 2012. Hướng dẫn này với mục đích giúp cho các nhà lãnh dao, quản lý của các cơ quan Kiểm toán nhà nướchiêu được nguồn nhân lực cơ quan Kiểm toán nha nướclà gì và họ cần gì từ đội ngũ cán bộ của mình. Hướng dẫn này cũng là một tài liệu bồ ích dành cho công chức KTNN nhằm đảm bao công việc của họ phù hợp với các thông lệ quốc tế tốt nhất.
Hơn nữa, hướng dẫn này rất hữu ích đối với tất cả cán bộ trong cơ quan Kiểm toán nhà nướccó vai tro lãnh đạo, điêu hành. Khi các nhân viên chuyên về công tác quản lý nhân lực xây dựng được cơ sở pháp lý, hệ thống và các chính sách thì những nhà quản lý các cấp trong cơ quan Kiểm toán nhà nướccần tạo cơ hội cho các nhân viên xây dựng và phát triển, khuyến khích nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ và ngay cả khi họ không dat được kỳ vọng dé ra thì cũng đảm bảo được rang họ sẽ có cách ứng xử một cách phù hợp. Hướng dẫn này cũng khăng định một điều rằng van đề cốt lõi của một cơ quan Kiểm toán nhà nướcđó là khang định được cơ quan đó có khả năng thu hút, sử dụng số lượng cán bộ phù hợp với kinh nghiệm và kỹ năng làm việc hiệu quả. Hướng dẫn đề cập đến cách thức thành lập bộ phận quản lý nguồn nhân lực trong một cơ quan Kiểm toán nhà nước, xây dựng chiến lược và chính sách nguồn nhân lực, xây dựng các tiêu chí khả năng làm việc; tuyển chọn nhân sự; khen thưởng và xử phạt, chế độ đãi ngộ; dao tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức KTNN.
Một số khái niệm 1. Nhân lực, Nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều khái niệm về nhân lực; theo PGS.TS Hoàng Văn Hải (2010, tr.82)“Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của bat kỳ doanh nghiệp nào. Vì vậy, đầu tư vào nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực là hướng đầu tư có hiệu quả nhất, vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu đài”. Khái niệm nguồn nhân lực (NNL) có nhiều định nghĩa khác nhau: Theo GS.TS Bui Văn Nhơn (2006, tr.72) “Nguồn nhân lực là lực lượng lao động của tổ chức, là số người có trong danh sách của tô chức, do tổ chức trả lương” Với cách định nghĩa này tác giả mới chỉ nhìn nhận NNL về mặt số lượng, mà chưa xem xét NNL với các yếu té liên quan đến chất lượng, vai trò và tầm quan trọng của NNL đối với sự phát triển của tổ chức.