mở đầu từ niềm tin khôi phục con ngƣời. Khi con ngƣời không còn tranh giành lẫn nhau, cũng không dựa vào trời hay thần thánh nào cả, thì con ngƣời phải kết hợp lại trên cơ sở tin tƣởng lẫn nhau để duy trì cuộc sống, phải tích cực đối xử tƣơng thân tƣơng ái với nhau…Chúng ta có thể nói Khổng Tử là ngƣời đầu tiên đã đặt học vấn thành điều kiện quan trọng tất yếu phải có để hoàn thiện nhân cách. Dùng việc giáo dƣỡng hậu thiên để hoàn thiện mẫu hình con ngƣời nhất định, khiến cho ai cũng trở thành ngƣời lý tƣởng chí thiện, chí nhân nhƣ Nghiêu, Thuấn. Đây là sáng kiến siêu việt của Nho học Tiên Tần, cũng là nguyên do chủ yếu khiến Nho giáo đƣợc ngƣời đời sau hết mực suy tôn” 6, tr.
Vi Chính Thông trong “Nho gia với Trung Quốc ngày nay” cho rằng: “Một trong những chức năng chủ yếu của tƣ tƣởng đạo đức là đề ra đƣợc lý tƣởng nhân sinh. Quan trọng hơn là chỉ ra đƣợc phƣơng pháp đạt tới lý tƣởng – đó là công việc 18 thực tế của đạo đức. Đối tƣợng vận dụng đạo đức là cuộc sống con ngƣời…Hƣớng về giúp ích hay hƣớng về phản lại là do sự chi phối của sức mạnh lý tính. Gợi nên sức mạnh lý tính là sự tu dƣỡng của đạo đức Nho gia” 123, tr.
Tiêu Quần Trung trong “Chữ hiếu trong nền văn hóa Trung Hoa” cũng khẳng định: “Quan niệm, tôn chỉ và đặc điểm của nhà Nho là ở chỗ tính nhân văn và tính đạo đức. Có nghĩa là giáo dục lấy con ngƣời làm trung tâm và mục đích, là một loại giáo dục “thành nhân” chứ không chỉ là “thành tài”. Làm ngƣời ra sao, thành ngƣời nhƣ thế nào? Tức là trở thành “con ngƣời đạo đức”. Khổng Tử khai sáng Nho học là học phái đạo đức.
Ông khai sáng sự nghiệp là giáo dục đạo đức. Nhiệm vụ giáo dục theo ông là đào tạo học trò thành “ngƣời có đạo đức”. Tính chất giáo dục của Khổng Tử là hƣớng về nhân sinh, mục tiêu đào tạo con ngƣời có nhân cách hoàn mỹ, có đạo đức cao thƣợng” [135, tr. Vũ Khiêu trong bài viết “Về giá trị đương đại của Nho giáo ở Việt Nam” đã viết: “Nhiều tiêu chuẩn tối thiểu của đạo đức đã bị coi thƣờng ở một số tầng lớp.
Thái độ và hành vi đối xử với cha mẹ, cũng nhƣ quan hệ vợ chồng, con cái, anh em đang diễn ra một cách tùy tiện và nhiều lúc rất đáng chê trách. Phải chăng đạo đức Nho giáo có những điều tốt đẹp mà xã hội ta đã không giữ lại?” 154, tr. Cho nên, ở vấn đề này, cá nhân nghiên cứu sinh đặc biệt tán thành quan điểm của GS. Vũ Khiêu: “Nho giáo từng đóng một vai trò to lớn trong lịch sử Việt Nam và vẫn còn tiếp tục có tác dụng trong xa hội ngày nay.
Nếu không đặt vấn đề nghiên cứu Nho giáo một cách nghiêm túc thì chúng ta sẽ buông trôi cho sự phục hồi những nhân tố tiêu cực của Nho giáo đồng thời cũng sẽ lãng phí những nhân tố tích cực mà Nho giáo còn có thể đóng góp vào sự nghiệp của chúng ta hôm nay. Chúng ta cần học tập thái độ của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc vừa khai thác những nhân tố hợp lý của Nho giáo, vừa gạt bỏ những nét tiêu cực của nó. Ngƣời đã nhanh chóng cải biến nhiều khái niệm của Nho giáo để những khái niệm ấy chứa đựng một nội dung mới trong hình thức cũ. Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc, chúng ta cần xác định những quan điểm lý luận đúng đắn nhằm xây dựng một nền đạo đức mới, trong gia đình và xã hội cùng những phƣơng 19 hƣớng tu dƣỡng cá nhân trên cơ sở phát huy và đổi mới truyền thống dân tộc trong đó có những nhân tố tích cực của Nho giáo” 154, tr.
Cách đặt câu hỏi và định hƣớng vấn đề của Vũ Khiêu thống nhất với cách đặt vấn đề của đa số các học giả ở trên và nó đã trở thành mối quan tâm của giới trí thức từ rất lâu trong lịch sử. Trách nhiệm đặt ra là cần tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống trên tinh thần khoa học, khách quan để đánh giá những đóng góp cũng nhƣ hạn chế của Nho giáo để từ đó có thể kế thừa, nâng tầm và vận dụng một cách có ý nghĩa những giá trị của nó trong xã hội hiện đại. Thấy đƣợc sự cần thiết phải kế thừa và vận dụng các giá trị truyền thống trong đó có Nho giáo để giáo dục đạo đức, Nguyễn Văn Phúc với “Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường” đã khẳng định: “Trong các xã hội phƣơng Đông truyền thống, giá trị nhân cách vốn đƣợc xác định bởi vốn hiểu biết về mối quan tâm của con ngƣời đối với ngƣời khác, bởi trách nhiệm và cộng đồng. Thậm chí trong những tình thế phải quyết chọn, ngƣời ta sẵn sàng “xả thân thành nhân”, coi đó là phƣơng châm giải quyết những xung đột giữa cá nhân với cộng đồng.
Nhƣng trong điều kiện của cơ chế thị trƣờng, dƣới áp lực của lợi nhuận, cạnh tranh, giá trị nhân cách ít biểu hiện qua những đóng góp, hy sinh của con ngƣời. Nó thƣờng đƣợc nhìn nhận, đánh giá bằng mức độ thành đạt, quy mô thu nhập, thậm chí bằng khả năng biến ngƣời khác thành phƣơng tiện hợp pháp để thực hiện các mục đích của một con ngƣời nhất định…Trong điều kiện nhƣ vậy, giáo dục đạo đức phải hình thành và củng cố trong con ngƣời một niềm tin sâu sắc vào những giá trị đích thực và lâu bền của con ngƣời. Tình thƣơng, trách nhiệm, lƣơng tâm, sự trung thực và khiêm tốn…là những phẩm chất nhân cách không thể mua bán đƣợc, không thể thay đổi đƣợc” [21, tr.221] Du Vinh Căn trong “Tư tưởng Khổng Tử” khẳng định: “Khổng Tử đã đƣa ra nội dung trọn vẹn về đạo đức, luật lệnh đƣợc coi là lễ giáo và đức giáo. Trong việc lấy lễ giáo và đức giáo để phòng ngừa phạm tội, Khổng Tử đã đƣa ra hàng loạt luật lệnh đạo đức, ông chú trọng tới một trong những biện pháp mang tính tổng hợp để khống chế tội phạm xã hội và hệ thống đối sách phòng ngừa phạm tội.
Trong đó 20 điều trƣớc tiên là phải “hiếu”…Đạo đức giáo hóa của hiếu và gia đình đƣợc coi là vật truyền tải của hiếu, là đòn bẩy trong hệ thống đối sách ngăn ngừa và khống chế phạm tội. Trong xã hội tông pháp, lấy hiếu để ổn định gia đình, lấy ổn định gia đình để ổn định xã hội, thì không còn nghi ngờ gì nữa, điều đó có thể đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn” [8, tr.164] Cho rằng việc dạy và học chữ nhân, chữ hiếu là việc làm cả đời, nó không có điểm tận cùng, không có thời gian quy định cụ thể học bao nhiêu lâu thì thành nhân hoặc ngƣời có hiếu, Vũ Phƣợng Ngọc trong bài viết: “Cần dạy học sinh từ nhỏ chữ nhân, chữ hiếu” khẳng định: Giáo dục ở đây là dạy cho học sinh ngay từ thủa ấu thơ biết vị tha, độ lƣợng, biết hành xử đúng đắn đối với các mối quan hệ xã hội phức tạp hàng ngày; Việc phụng dƣỡng cha mẹ già, thờ cúng tổ tiên, thắp hƣơng tƣởng nhớ các anh hùng, liệt sỹ đều là phản ánh chữ hiếu trong đạo lý làm ngƣời.14] Đặt vấn đề về quá trình giáo dục đạo nhân suốt đời cho con ngƣời Phạm Đình Đạt trong “Học thuyết tính thiện của Mạnh Tử với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay” cho rằng: “Học thuyết tính thiện của Mạnh Tử nếu nhƣ gạt bỏ những hạn chế về điều kiện lịch sử và dấu ấn của lợi ích giai cấp, nó vẫn có những giá trị lịch sử nhất định trong đời sống xã hội hiện đại trƣớc những cơn lốc của cơ chế thị trƣờng. Những giá trị ấy chỉ ra rằng sức mạnh của con ngƣời chính là tính thiện và mọi sự cải cách xã hội sẽ chỉ là nửa vời nếu nhƣ không chú ý đúng mức vấn đề giáo dục đạo đức cho con ngƣời, song song với việc phát triển kinh tế xã hội” [36, tr. Phạm Đình Đạt cũng nhận định: “Thƣờng những cá nhân sống có lòng yêu thƣơng và trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội, trƣớc hết họ phải là những ngƣời con hiếu thảo với cha mẹ, có trách nhiệm đối với ngƣời thân mình…Nếu xem nhẹ, buông lỏng quá trình tự giáo dục và giáo dục nhân nghĩa trong gia đình sẽ góp phần gia tăng lối sống ích kỷ cực đoan, vô trách nhiệm của của cá nhân không chỉ đối với xã hội mà đối với cả gia đình.
Nhƣng trên cơ sở tình yêu và trách nhiệm đối với ngƣời thân phải đƣợc bồi dƣỡng, giáo dục nâng lên tình yêu và trách nhiệm của con ngƣời đối với tập thể, xã 21 hội và sự nghiệp cách mạng của dân tộc” [36, tr. Tuy trong tác phẩm, Phạm Đình Đạt không trực tiếp đề cập đến đạo đức trung hiếu nhƣng chính trong quá trình phân tích tầm quan trọng của quá trình giáo dục và tự giáo dục đạo nhân cho con ngƣời, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời giữa trách nhiệm trong gia đình và trách nhiệm đối với tập thể, xã hội, tổ quốc. Trong “Cách tiếp cận của Khổng Tử” (in trong “Nho giáo xƣa và nay”, Vũ Khiêu chủ biên), Phan Ngọc cho rằng, học thuyết của Khổng Tử: “Là học thuyết đầu tiên đặt con ngƣời giữa những con ngƣời và chỉ giữa những con ngƣời, tách khỏi vũ trụ cũng nhƣ tách khỏi thần linh, linh hồn, cuộc sống kiếp sau và tìm thấy ở trách nhiệm giữa tôi với những ngƣời khác ý nghĩa cuộc sống, giá trị và hạnh phúc của tôi. Ông là ngƣời đầu tiên nói với con ngƣời cái chân lý bất tử: sống là chịu trách nhiệm” [64, tr.
Phan Ngọc cũng đặt vấn đề lễ. Đứng trƣớc những quan điểm cho rằng: “làm chủ bản thân theo lễ là nhân” là phản động, Phan Ngọc đƣa ra ý kiến: “Vấn đề là quy định cho thực dân chủ, cách mạng, nội dung của lễ - điều này làm sao có thể bắt tội Khổng Tử đƣợc? Còn con ngƣời chỉ là con ngƣời xã hội khi biết tự kiềm chế mình, vâng theo những tiêu chuẩn hành vi đƣợc coi là mẫu mực. Xác lập vai trò của lễ là xác lập sự kiểm tra của toàn dân đối với từng ngƣời, kể cả ngƣời lãnh đạo.