Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh long an

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng tại doanh nghiệp thương mại Long An.

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

98
5
2

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.5.1. Phương pháp định tính

1.5.2. Phương pháp định lượng

1.5.3. Phương pháp chọn mẫu

1.6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.7. Kết cấu luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Tổng quan cơ sở lý thuyết

2.2. Hành vi gian lận

2.3. Hành vi gian lận thuế

2.4. Các hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng

2.5. Lược khảo những nghiên cứu trước có liên quan

2.5.1. Nghiên cứu trong nước

2.5.2. Nghiên cứu nước ngoài

2.6. Đề xuất mô hình lý thuyết

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Nghiên cứu định tính

3.2.2. Nghiên cứu định lượng

3.3. Phương pháp chọn mẫu

3.4. Kích cỡ mẫu

3.5. Thiết kế phiếu điều tra chính thức

3.6. Xây dựng thang đo

3.6.1. Thang đo về yếu tố cơ hội

3.6.2. Thang đo về yếu tố động cơ

3.6.3. Thang đo về yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận

3.6.4. Thang đo về yếu tố hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng

3.7. Giả thuyết nghiên cứu

3.8. Xử lý và phân tích dữ liệu

3.8.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

3.8.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

3.8.3. Kiểm định và đánh giá mô hình

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả mẫu khảo sát

4.1.1. Vị trí công tác

4.1.2. Trình độ học vấn

4.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

4.2.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo “yếu tố cơ hội gian lận thuế”

4.2.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo “yếu tố động cơ gian lận thuế”

4.2.3. Kiểm định độ tin cậy của thang đo “yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận thuế”

4.2.4. Kiểm định độ tin cậy của thang đo “yếu tố hành vi gian lận thuế”

4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.3.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA của các thang đo tác động đến hành vi gian lận thuế

4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA của thang đo “yếu tố hành vi gian lận thuế”

4.4. Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

4.4.1. Phân tích tương quan

4.4.1.1. Kết quả kiểm định giả thuyết H1 về tương quan giữa biến CH và HV
4.4.1.2. Kết quả kiểm định giả thuyết H2 về tương quan giữa biến DC và HV
4.4.1.3. Kết quả kiểm định giả thuyết H3 về tương quan giữa biến HL và HV

4.4.2. Phân tích hồi qui

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Một số kiến nghị về hạn chế hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM trên địa bàn tỉnh Long An

5.1.1. Yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận thuế GTGT

5.1.2. Yếu tố động cơ gian lận thuế GTGT

5.1.3. Yếu tố cơ hội gian lận thuế GTGT

5.2. Hạn chế của đề tài nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Gian Lận Thuế GTGT Tại Doanh Nghiệp Thương Mại Long An

Gian lận thuế GTGT là một vấn đề nghiêm trọng tại các doanh nghiệp thương mại ở Long An. Theo báo cáo của Cục Thuế tỉnh Long An, tỷ lệ gian lận thuế trong giai đoạn 2010-2014 đã đạt mức cao, với nhiều vụ việc bị phát hiện. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước mà còn làm giảm tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế là rất cần thiết để có những biện pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Định Nghĩa Gian Lận Thuế GTGT

Gian lận thuế GTGT được hiểu là hành vi cố ý lừa dối nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, gian lận thuế là những hành vi làm sai lệch thông tin tài chính, gây ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

1.2. Tình Hình Gian Lận Thuế Tại Long An

Tại Long An, gian lận thuế GTGT diễn ra phổ biến với nhiều hình thức khác nhau. Các doanh nghiệp thường sử dụng các thủ đoạn như không xuất hóa đơn, lập hồ sơ xuất khẩu khống để chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước.

II. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Gian Lận Thuế GTGT Tại Doanh Nghiệp

Nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT tại các doanh nghiệp thương mại. Các yếu tố này bao gồm cơ hội, động cơ và khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận. Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp các nhà quản lý thuế có cái nhìn tổng quan hơn về tình hình gian lận thuế.

2.1. Yếu Tố Cơ Hội

Yếu tố cơ hội liên quan đến khả năng thực hiện hành vi gian lận mà không bị phát hiện. Doanh nghiệp có thể lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống quản lý thuế để thực hiện hành vi gian lận.

2.2. Yếu Tố Động Cơ

Động cơ gian lận thuế thường xuất phát từ áp lực tài chính hoặc mong muốn tối đa hóa lợi nhuận. Doanh nghiệp có thể cảm thấy cần thiết phải gian lận để duy trì hoạt động kinh doanh.

2.3. Yếu Tố Khả Năng Hợp Lý Hóa

Khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận cho phép doanh nghiệp biện minh cho hành động của mình. Điều này có thể đến từ việc thiếu hiểu biết về pháp luật thuế hoặc sự chấp nhận của xã hội đối với hành vi gian lận.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đánh Giá Gian Lận Thuế GTGT

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này bao gồm cả định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính giúp khám phá các yếu tố ảnh hưởng, trong khi nghiên cứu định lượng đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến hành vi gian lận thuế.

3.1. Phương Pháp Định Tính

Phỏng vấn các chuyên gia và cán bộ thuế để thu thập thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận thuế. Phương pháp này giúp xây dựng thang đo cho các yếu tố nghiên cứu.

3.2. Phương Pháp Định Lượng

Sử dụng bảng câu hỏi với thang đo Likert 5 mức độ để thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp. Dữ liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS để kiểm định độ tin cậy và phân tích nhân tố.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Gian Lận Thuế GTGT

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan mạnh mẽ giữa các yếu tố ảnh hưởng và hành vi gian lận thuế GTGT. Các yếu tố như cơ hội và động cơ có tác động lớn đến quyết định gian lận của doanh nghiệp. Điều này cho thấy cần có các biện pháp quản lý thuế hiệu quả hơn.

4.1. Phân Tích Nhân Tố

Phân tích nhân tố cho thấy các yếu tố cơ hội, động cơ và khả năng hợp lý hóa đều có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi gian lận thuế. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tập trung vào các yếu tố này trong quản lý thuế.

4.2. Kiểm Định Giả Thuyết

Kết quả kiểm định giả thuyết cho thấy có sự tương quan tích cực giữa các yếu tố ảnh hưởng và hành vi gian lận thuế. Điều này khẳng định tính hợp lý của mô hình nghiên cứu.

V. Kết Luận Và Kiến Nghị Giải Pháp Chống Gian Lận Thuế

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy cần có các giải pháp đồng bộ để hạn chế tình trạng gian lận thuế GTGT tại các doanh nghiệp thương mại. Các giải pháp này bao gồm cải thiện hệ thống quản lý thuế, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra.

5.1. Giải Pháp Cải Thiện Quản Lý Thuế

Cần cải thiện hệ thống quản lý thuế để giảm thiểu cơ hội gian lận. Điều này bao gồm việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế và tăng cường đào tạo cho cán bộ thuế.

5.2. Nâng Cao Ý Thức Chấp Hành Pháp Luật

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về pháp luật thuế cho doanh nghiệp. Điều này giúp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế và giảm thiểu hành vi gian lận.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh long an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cở sở lý thuyết Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2, tác giả giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết về hành vi gian lận, hành vi gian lận thuế, các hành vi gian lận thuế GTGT của các doanh nghiệp thương mại, lược khảo những công nghiên cứu trước có liên quan và đề xuất mô hình lý thuyết.Tổng quan cơ sở lý thuyết: 2. Hành vi gian lận Theo từ điển Tiếng việt “Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục tiêu tư lợi” Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 “Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong hội đồng quản trị, ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”. Hành vi gian lận: là các hành vi bất thường và phi pháp mang chủ ý lừa dối, hay đưa thông tin thiếu chính xác mà cá nhân đó biết rõ là sai hoặc tin là không đúng. Người có hành vi gian lận biết rõ hành vi đó có thể đem lại lợi ích bất hợp pháp cho cá nhân hoặc tổ chức nào đó.

Gian lận có thể do người bên trong hoặc bên ngoài tổ chức thực hiện. Hành vi gian lận thuế Thuế là phạm trù pháp luật; luật thuế quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thực hiện. Trong đó, cơ quan Thuế có tư cách là chủ thể quản lý Nhà nước về thuế, người nộp thuế là đối tượng của quản lý. Trong quá trình thực hiện luật thuế và các chính sách thuế thì gian lận thuế chỉ là hành vi của đối tượng nộp thuế, còn chủ thể quản lý với bộ máy và cán bộ thuế có chức năng chống gian lận thuế.

Do đó, khái niệm gian lận thuế được hiểu là: “Bằng những hành vi dối trá, lừa lọc các đối tượng nộp thuế vi phạm pháp luật thuế nhằm mục đích trốn số thuế phải nộp theo quy định hoặc để chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ ngân sách Nhà nước”. Gian lận thuế là hành vi vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành với hoạt động thuế của Nhà nước. Có thể nói, Nhà nước còn đánh thuế thì sẽ còn tồn tại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 hành vi gian lận thuế do động cơ của gian lận thuế luôn tồn tại khi Nhà nước thu thuế, đó là mong muốn giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chấp nhận các hành vi gian lận thuế.

Gian lận thuế sẽ giảm bớt nếu hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả cao. Các hành vi gian lận thuế GTGT Theo Lê Xuân Trường và Nguyễn Đình Chiến (2013) các hành vi gian lận thuế GTGT được nhận dạng như sau: Một là, bỏ ngoài sổ sách kế toán Bán hàng nhưng không xuất hóa đơn để che giấu doanh thu. Đây là thủ đoạn khá phổ biến hiện nay. Theo đó, người nộp thuế thường sử dụng đồng thời hai hệ thống sổ sách kế toán, một hệ thống sổ kế toán nội bộ phản ánh đầy đủ các giao dịch kinh tế, hệ thống kế toán còn lại chỉ phản ánh một phần các giao dịch kinh tế để khai thuế.

Kiểu hành vi này thường xảy ra ở các doanh nghiệp dân doanh hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, ăn uống, khách sạn, xây dựng dân dụng và sản xuất nhỏ. Đây chính là một kiểu hoạt động kinh tế ngầm mà môi trường thuận lợi của nó là nền kinh tế tiền mặt. Rất khó có thể xác định được số thuế thất thu do hành vi trốn thuế này gây ra vì nếu xác định được thì đã không xảy ra thất thu thuế. Một số vụ trốn thuế bị phanh phui thời gian qua cho thấy hành vi này khá phổ biến và gây thất thu ngân sách.

Chẳng hạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn thông tin tín nhiệm và xếp hạng DN Việt Nam đã trốn thuế 1.028 triệu đồng qua hành vi không ghi sổ kế toán tiền bán quyền mua căn hộ; Công ty Viễn thông điện lực bán hàng không xuất hóa đơn, không phản ánh vào sổ kế toán để trốn thuế 37 tỷ đồng. Hai là, tạo giao dịch bán hàng giả mạo Thành lập nhiều doanh nghiệp “ma” thành hệ thống để gian lận thuế GTGT lợi dụng chính sách khuyến khích xuất khẩu, một số công ty đã lập hồ sơ xuất khẩu khống để kê khai hoàn thuế hay thành lập nhiều DN “ma” thành hệ thống kinh doanh trốn thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 Mục tiêu của thủ đoạn này là chiếm đoạt tiền ngân sách Nhà nước thông qua hoàn thuế hoặc tiếp tay cho hành vi tham nhũng NSNN của một bộ phận công chức được giao nhiệm vụ mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ cho cơ quan Nhà nước. Thủ đoạn này cũng liên quan đến hành vi giao dịch mua hàng giả mạo sẽ phân tích dưới đây nhằm giúp cho bên mua tăng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và giảm chi phí tính thuế thu nhập DN.

Điển hình cho thủ đoạn này là hành vi xuất khẩu khống nhằm chiếm đoạt tiền qua hoàn thuế GTGT từ NSNN. Xuất khẩu khống chủ yếu diễn ra đối với phương thức xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới. Dạng gian lận này đã có một thời bị ngăn chặn đấu tranh quyết liệt nên giảm bớt nhưng trong vài năm gần đây lại có xu hướng bùng phát với những hình thức tinh vi hơn, đặc biệt có dấu hiệu trầm trọng là ở các tỉnh giáp ranh Campuchia. Lợi dụng hệ thống sông ngòi chằng chịt để quay vòng hàng hóa: sau khi làm thủ tục xuất khẩu sang nước bạn thì lại đưa hàng hóa quay trở lại Việt Nam không qua cửa khẩu, rồi sau đó lại làm thủ tục xuất khẩu.

Trong trường hợp này, các đối tượng cấu kết với đối tác nước ngoài để hoàn tất các thủ tục để đủ điều kiện đề nghị hoàn thuế GTGT. Cùng với đó, các đối tượng này cũng áp dụng chiêu thức mua hóa đơn để hợp thức hóa thuế GTGT đầu vào và chi phí tính thuế thu nhập DN. Không phải ngẫu nhiên mà kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Campuchia tăng nhanh đáng ngờ, kèm theo đó, số tiền hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu sang Campuchia cũng tăng nhanh chóng: Năm 2011 tăng 196,4% so với năm 2010, năm 2012 tăng 190% so với năm 2011. Ngoài xuất khẩu khống, giao dịch bán hàng hóa, dịch vụ giả mạo còn được thực hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng bán hàng khống; các hợp đồng cung cấp dịch vụ khống và xuất hóa đơn khống.

Hành vi này được thực hiện ở cả DN “ma” và cả ở các DN đang hoạt động kinh doanh bình thường. Ba là, tạo giao dịch mua hàng giả mạo Không có giao dịch mua bán trong thực tiễn nhưng bên bán vẫn cung cấp hóa đơn cho các đơn vị có yêu cầu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 23 Thủ đoạn tạo giao dịch mua hàng giả mạo không hoàn toàn trùng với thủ đoạn thành lập DN “ma”, do việc tạo giao dịch mua hàng giả mạo không chỉ thực hiện thông qua hành vi mua hóa đơn, song giữa chúng có mối liên hệ mật thiết. DN “ma” là DN được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng thực tế không sản xuất kinh doanh, chỉ nhằm mục đích đủ điều kiện để được phát hành hoá đơn, từ đó bán hóa đơn cho các đối tượng khác hoặc trung gian lập hoá đơn mua bán khống, lập hồ sơ giả mạo để xin hoàn thuế.

Mức độ thiệt hại do những hoá đơn trôi nổi này gây ra là không thể kiểm soát được, bởi nó hoàn toàn phụ thuộc vào số chi phí đầu vào cần hợp thức hoá của DN mua bán hoá đơn. Hiện nay, hình thức gian lận này càng được tổ chức tinh vi hơn và có hệ thống, tuy nhiên có một số đặc điểm mang tính định vị như: các DN “ma” thường thành lập dưới dạng công ty TNHH hay DNTN; chủ DN thường là người có hộ khẩu thường trú ở địa phương khác đến đăng ký thành lập DN, hạn chế về trình độ học vấn, không am hiểu pháp luật; văn phòng giao dịch thường đi thuê thời hạn ngắn, trụ sở chật hẹp, tài sản không tương xứng với mô hình tối thiểu của một DN bình thường; đăng ký kinh doanh nhiều ngành nghề, chủ yếu là thương mại, dịch vụ tổng hợp, những ngành nghề không cần phải đăng ký vốn pháp định và không bắt buộc có chứng chỉ hành nghề; doanh thu lớn nhưng chênh lệch giữa thuế GTGT đầu vào và thuế GTGT đầu ra ít nên kê khai thuế thấp, thậm chí có thuế GTGT phải nộp âm nhiều kỳ nhưng không làm thủ tục xin hoàn thuế… Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu hàng hóa được phân tích phân loại. Trong đó, mẫu khai đúng chiếm khoảng 47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4%. Đây là hành vi trốn thuế khá phổ biến hiện nay, thực tế DN không có khoản chi này nhưng đã tự tạo ra chứng từ để hợp pháp hóa khoản chi không có thực, vì thế có thể gọi đây là chi khống.

Chi khống thể hiện qua những bảng kê thanh toán giả mạo với chữ ký giả, hợp đồng lao động giả mạo (có trường hợp tên người lao động không có thật; có trường hợp tên người lao động là có thật nhưng thực sự không làm việc cho DN đó) và thể hiện ở những hóa đơn đi mua của cơ sở kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 24 doanh khác. Bằng hành vi này, DN không chỉ trốn thuế TNDN mà còn trốn cả thuế GTGT thông qua việc khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào. Đối với những hóa đơn đi mua, để phát hiện, cơ quan Thuế phải làm tốt công tác đối chiếu, xác minh. Thực tế thời gian qua, thông qua công tác đối chiếu hóa đơn, cơ quan Thuế các địa phương đã phát hiện khá nhiều trường hợp gian lận.

Chẳng hạn, năm 2012, Cục Thuế Hà Nội đã gửi 10.200 phiếu xác minh hóa đơn, gồm 28.444 số; kết quả trả lời xác minh 7.570 phiếu, chiếm 74,21% số phiếu gửi đi. Qua xác minh hóa đơn và thanh tra, kiểm tra, phát hiện 786 hóa đơn vi phạm, truy thu thuế GTGT là 1.198 triệu đồng, thuế thu nhập DN là 1.658 triệu đồng và xử phạt hành vi trốn thuế 646 triệu đồng, xử phạt hành chính 369 triệu đồng”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này là một phân tích chuyên sâu, đánh giá toàn diện các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế Giá trị gia tăng (GTGT) của các doanh nghiệp thương mại. Nghiên cứu tập trung làm rõ những động cơ, phương thức và các nhân tố cả bên trong lẫn bên ngoài tác động đến quyết định gian lận thuế. Việc nắm bắt sâu sắc các yếu tố này không chỉ giúp các cơ quan quản lý thuế và doanh nghiệp xây dựng những chiến lược phòng chống gian lận hiệu quả hơn, mà còn góp phần tăng cường tính minh bạch và tuân thủ pháp luật thuế. Đặc biệt, nghiên cứu cung cấp cái nhìn hữu ích, có thể được vận dụng để tìm hiểu gian lận thuế GTGT Long An hoặc phát triển giải pháp chống gian lận thuế TNDN tại các địa phương khác. Đây là nguồn tài liệu thiết yếu cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp trong nỗ lực xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng.