Đặt vấn đề Trải qua nhiều thập kỷ, ngành chăn nuôi đã và đang chiếm một vai trò to lớn trong nền kinh tế. Bên cạnh các ngành chăn nuôi trâu bò, gia cầm, dê. Chăn nuôi lợn đã trở thành ngành chăn nuôi truyền thống và đem lại thu nhập cao. Do đó, để có chất lượng con giống tốt, tạo ra nhiều thịt phục vụ nhu cầu thực phẩm trong nước và xuất khẩu, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà chăn nuôi.
Trong những năm gần đây, năng suất sinh sản của lợn nái ngoại ở nước ta đã có nhiều cải thiện nhờ chất lượng con giống, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái ngoại dần được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên, do khả năng thích nghi của lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém, do công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ không đảm bảo mà năng suất sinh sản của lợn nái nước ta còn thấp so với các nước trong khu vực và các nước tiên tiến. một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như nuôi tập trung ở các hộ chăn nuôi gia đình. Đối với lợn nái, nhất là lợn nái ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém.
Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn như Streptococcus, Staphylococcus, E.coli,… xâm nhập và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm môn,… Đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung, đây là bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ. Nếu không điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn tới các bệnh kế phát như: e 2 Viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết,… Đặc biệt là bệnh viêm tử cung, viêm vú và bại liệt sau khi đẻ ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói riêng, đồng thời ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng và hiệu quả toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung. Để hiểu rõ hơn về bệnh, đồng thời giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải quyết phù hợp trong vấn đề phòng và trị bệnh hiệu quả, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh sản khoa gây ra ở lợn nái sinh sản. Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.
Hà Văn Doanh cùng sự giúp đỡ của trang trại của ông Nguyễn Thanh Lịch, huyện Ba Vì, Hà Nội tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung, bệnh viêm vú ở lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn nái Nguyễn Thanh Lịch, Ba Vì – Hà Nội và phác đồ điều trị”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Nắm được tình hình chăn nuôi và vệ sinh phòng bệnh cho lợn của trại lợn nái Nguyễn Thanh Lịch - Điều tra tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại. - Thử nghiệm phác đồ điều trị tại cơ sở 1. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả đạt được của đề tài là những thông tin có giá trị bổ sung vào tài liệu nghiên cứu về bệnh viêm tử cung và viêm vú, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả. - Kết quả thu được là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sản xuất của đàn lợn nuôi tại trại lợn nái Nguyễn Thanh Lịch, huyện Ba Vì, Hà Nội. Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được hiệu quả của phác đồ trong điều trị bệnh viêm tử cung, và viêm vú ở lợn nái - Những khuyến cáo của đề tài giúp người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra. e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cấu tạo cơ quan sinh dục lợn nái Bộ phận sinh dục của lợn cái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình). * Buồng trứng Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu. Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng.
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hocmon: Estrogen, Progesterone, Oxytocin, Relaxin và Inhibin. Các hocmon này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái. Theo Khuất Văn Dũng (2005) [4] ở bề mặt ngoài của buồng trứng có một lớp liên kết được bao bọc bởi lớp biểu mô hình lập phương. Bên dưới lớp này là lớp vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng (thể vàng thoái hóa).
Phần tủy của buồng trứng nằm ở giữa, gồm có mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết. Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng. Trên buồng trứng có từ 70.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng. Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất và được bao bọc bởi lớp tế bào vảy.
Noãn nang nguyên thủy phát triển thành noãn nang bậc một, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình e 5 lập phương (tế bào nang). Khi được sinh ra buồng trứng đã có sẵn hai loại noãn nang này. Noãn nang bậc một có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành noãn nang bậc hai. Noãn nang bậc hai có hai hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang).
Noãn nang có xoang được xem như noãn nang bậc ba, chứa dịch nang và có thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf). Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết tại chỗ. Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần. Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng (Trần Thị Dân, 2004) [2]) * Ống dẫn trứng Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo.
Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng. Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ. Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn.
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung. * Tử cung Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu. Tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng. e 6 Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung: Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng.
Thân tử cung dài 3 - 5cm. Cổ tử cung lợn dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo kiểu cài răng lược, thông với âm đạo. Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc. - Lớp tương mạc: là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối tiếp vào hệ thống các dây chằng.
- Lớp cơ trơn: gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài. Giữa 2 tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn. Theo Trần Thị Dân (2004) [2], trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng) khi có nhiều Estrogen trong máu và trương lực co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều Progesterone trong máu. Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ.
Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung. - Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung. Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung. Trên niêm mạc có các nếp gấp.
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng. Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại. Tuy e 7 nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của Progesterone. Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ động dục.
* Âm đạo Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh. Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung.