Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Dân tộc thiểu số, cộng đồng và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng 1. Dân tộc thiểu số Nước Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số thì khu vực miền Trung, Nam Trung Bộ gồm khoảng 12 dân tộc cư trú xen kẽ nhau. Giữa các dân tộc này đã có quan hệ từ lâu đời, trong mối tương giao thân thiện cùng chung một vận mệnh lịch sử.
Nhìn chung, đồng bào các dân tộc ở Trường Sơn sinh sống chủ yếu nhờ vào rừng núi, đốt rừng làm nương rẫy. Tiến trình phát triển xã hội, vùng dân tộc thiểu số diễn ra chậm, trình độ dân trí, trình độ phát triển kinh tế - xã hội quá yếu kém [2]. Theo đề án “Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy giai đoạn 2008 -2012” (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007) cho rằng: Vùng trung du và miền núi là nơi sinh sống chủ yếu của các dân tộc ít người, gồm: - Nhóm dân tộc ngôn ngữ Tày- Thái: Cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Khu vực phía Tây tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An. - Nhóm dân tộc ngôn ngữ H’Mông- Dao: Cư trú chủ yếu ở các khu vực xen kẽ với nhóm các dân tộc ngôn ngữ Tày- Thái ở các tỉnh miền núi phía Bắc, khu vực phía Tây tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An.
- Nhóm dân tộc ngôn ngữ Hán bao gồm Hoa, Sán Dìu, Sán Trí sống chủ yếu tập trung ở những khu vực rất nhỏ của Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Thái Nguyên. - Nhóm dân tộc ngôn ngữ Nam Đảo: Cư trú chủ yếu ở khu vực phía Tây và Đông Nam của tỉnh Gia Lai; những khu vực nhỏ phía Tây của tỉnh Phú Yên; Một số khu vực nhỏ của Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Bình Thuận. - Nhóm dân tộc ngôn ngữ Môn – Khơ Me: Cư trú chủ yếu ở phía Tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng nam, Quảng Ngãi, Kon Tum; khu vực phía Đông của tỉnh Gia Lai; một số khu vực giáp ranh giữa Đắk Lắk và Lâm Đồng. Theo Cục thống kê tỉnh Bình Định: Năm 2014 tỉnh Bình Định có 2.000 nhân khẩu, bao gồm nhiều nhiều dân tộc khác nhau như: Người Kinh PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 2.154 nhân khẩu chiếm 98,75% chủ yếu sống ở đồng bằng và thành thị, người Bana 26.415 nhân khẩu chiếm 1,23 % dân số, người Thái 235 nhân khẩu chiếm 0,011% dân số, người H’rê 196 nhân khẩu chiếm 0,009% dân số, người Chăm 23.446 nhân khẩu chiếm 1.
Các đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Định sống lâu đời ở các huyện miền núi và trung du. Làng là tổ chức xã hội cơ bản hiện còn tồn tại trong các tộc người ở miền núi Bình Định. Những gia đình, những dòng họ là các tế bào cấu tạo nên làng. Có thể nói đồng bào các tộc người ở miền núi Bình Định từ trước tới nay hầu hết không biết đến những đơn vị xã hội truyền thống lớn hơn hay nhỏ hơn làng [13].
Cộng đồng Thuật ngữ cộng đồng (community) được định nghĩa: “Một nhóm người sống trên cùng một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung và/ hoặc có quan hệ gia đình/ xã hội với nhau” [5]. Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ [8]. Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương [7]. Làng cổ truyền là đơn vị xã hội cao nhất trong xã hội Chăm, Bana, Thái là cộng đồng của những người có quan hệ huyết thống hay khác huyết thống cùng sinh sống làm ăn trong một phạm vi nhất định [6].
Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng Theo FAO (1978) “Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”, tuy vậy nó thường được sử dụng với nghĩa hẹp hơn như là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm người dân địa phương [18]. Ở Nepal dùng thuật ngữ “Nhóm sử dụng rừng” (Forest User Group) để chỉ các hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng [4]. Khía cạnh tham gia cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong hình thành phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Trong hoạt động phát triển nông thôn cộng đồng, người dân địa phương có thể được thu hút tham gia vào tiến PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 trình quản lý tài nguyên, tuy nhiên cần phân biệt kiểu tham gia của họ và trong phương thức quản lý rừng cộng đồng [1].
Rõ ràng, lâm nghiệp “đồng quản lý” hay lâm nghiệp “có sự tham gia” là một cách tiếp cận mới trong đó hoạt động tham gia quản lý của cộng đồng đặt căn bản trên sự đồng thuận giữa các nhóm liên quan của hệ thống quản lý. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để phát huy vai trò của người dân địa phương trong việc quản lý tài nguyên rừng vì lợi ích của chính họ mà không mâu thuẫn với lợi ích chung. Bên cạnh đó, cần phải xác định những thay đổi nào được xem là cần thiết để người dân sống trong vùng có rừng có thể cùng với các cơ quan lâm nghiệp địa phương xây dựng một hệ thống quản lý rừng bền vững [3]. Thực tế quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được triển khai theo nhiều hình thức khác nhau và mức độ tham gia của cộng đồng cũng khác nhau.
Các phương thức đã được mô tả rõ là sự phát triển hình thức “liên kết quản lý rừng” giữa các cơ quan lâm nghiệp nhà nước với cộng đồng địa phương ở Ấn Độ, phát triển các “nhóm sử dụng tài nguyên rừng” ở Nepal, tổ chức các cộng đồng đăng ký quản lý rừng ở Philippines, và thể chế hóa hình thức quản lý rừng cộng đồng ở Thái Lan [14]. Trường hợp Thái Lan đã cho thấy việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý cho khái niệm rừng cộng đồng được các nhóm liên quan chấp nhận là một tiến trình lâu dài và phức tạp. Cho dù áp dụng hình thức nào, quản lý tài nguyên thiên nhiên (và tài nguyên rừng nói riêng) dựa vào cộng đồng cũng đòi hỏi những hành động tập thể [3]. Ngay cả khi nhận khoán quản lý với tư cách cá nhân nông hộ, các nông hộ trong cùng một cộng đồng cũng tự xây dựng các hình thức quản lý theo tập thể: Họ có thể phối hợp nhau trong các hoạt động tuần tra bảo vệ, phân công nhau giữ rừng và thực hiện một số hoạt động kinh tế chung trong khuôn khổ luật pháp và tập quán cho phép [4].
Sự tham gia và vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng Thuật ngữ “cộng đồng” cũng đã được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong các tài liệu liên quan đến quản lý tài nguyên thiên nhiên, cộng đồng thường được hiểu là “một nhóm người chia sẻ những lợi ích, mối quan tâm hay mối liên hệ chức năng hay đạo đức” [15]. Bên cạnh đó, cũng có những cách hiểu khác nhau về cách tiếp cận “quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng”, thậm chí đôi khi đồng nhất nó với hình thức “quản lý rừng cộng đồng”. Chính vì thế, việc xây dựng một lý thuyết chung dựa trên các công trình nghiên cứu hành động đã được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm phát triển trong hơn một thập kỹ PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 9 qua.
Chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (CBNRM) của IDRC là một ví dụ [17]. Cơ sở của việc thiết kế các hệ thống quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là sự xem xét liệu các định chế quản lý của con người có phù hợp với các hệ thống tự nhiên sinh học của môi trường hay không; nói cách khác, đây là “vấn đề của sự phù hợp” giữa hệ sinh thái tự nhiên và hệ thống nhân văn [5]. Quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phương thức quản lý rừng phổ biến ở Việt Nam và tồn tại song song với các phương thức quản lý khác như quản lý rừng của hệ thống sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhà nước, quản lý rừng tư nhân. Trong thực tiễn, có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau, tính đa dạng và phong phú của phương thức quản lý rừng này càng khẳng định vai trò của quản lý rừng cộng đồng như: Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước (Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, Ban quản lý các dự án) khoán cho các cộng đồng khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng; rừng và đất rừng của hộ gia đình và cá nhân là thành viên trong cộng đồng tự liên kết lại với nhau thành các nhóm cộng đồng (nhóm hộ) cùng quản lý để tạo nên sức mạnh để bảo vệ, hỗ trợ, đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp.
Quản lý tài nguyên rừng là một tiến trình tạo ra và thực thi các định chế hay chiến lược quản lý để đáp ứng với cả các vấn đề của con người và của môi trường một cách đồng thời. Do đó, thay vì phân tích cộng đồng như là một đối tượng quản lý, việc phân tích sự tham gia của cộng đồng như là chủ thể cung cấp một khuôn khổ lý thuyết quan trọng cho việc quản lý bền vững tài nguyên rừng. Trong lâm nghiệp “đồng quản lý” hay lâm nghiệp có sự tham gia là một cách tiếp cận mới trong hoạt động tham gia quản lý của cộng đồng đặt căn bản trên sự đồng thuận giữa các nhóm liên quan của hệ thống quản lý. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để phát huy vai trò của người dân địa phương trong việc quản lý tài nguyên rừng vì lợi ích của chính họ mà không mâu thuẫn với lợi ích chung.