Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bến Tre nằm ở vùng hạ lưu sông Tiền thuộc Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích tự nhiên 2.359,8 km², sở hữu chiều dài bờ biển 65 km tiếp giáp Biển Đông. Hơn 90% diện tích đất toàn tỉnh có cao độ địa hình thấp từ 1 đến 2 m so với mực nước biển, trong đó các dải đất ven sông và ven biển chỉ có cao độ dưới 1 m, thường xuyên bị ngập sâu khi triều cường dâng cao. Theo các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu, nếu mực nước biển dâng 1 m vào cuối thế kỷ này, ước tính có khoảng 50,1% diện tích đất tự nhiên của Bến Tre sẽ bị chìm trong nước. Thực tế đợt hạn mặn lịch sử năm 2016 đã làm tê liệt hoạt động sản xuất nông - thủy sản, đe dọa trực tiếp đến đời sống của hơn 1,2 triệu người dân địa phương.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự suy giảm nghiêm trọng của các nguồn vốn sinh kế truyền thống trước tình trạng xâm nhập mặn kéo dài, hạn hán khốc liệt và sạt lở bờ biển. Nghiên cứu này được triển khai nhằm mục tiêu đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương về sinh kế của cộng đồng dân cư tại 3 huyện ven biển gồm Thạnh Phú, Ba Tri và Bình Đại; đồng thời xây dựng bản đồ phân vùng tổn thương và đề xuất các giải pháp thích ứng bền vững.

Phạm vi nghiên cứu bao quát 9 xã trọng điểm ven biển trong giai đoạn 2018 - 2020. Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc lượng hóa các chỉ số tổn thương sinh kế bằng bộ trọng số phân tích thứ bậc với tỷ số nhất quán đạt độ tin cậy cao, tạo lập cơ sở dữ liệu khoa học giúp chuyển đổi phương thức quản lý thiên tai từ trạng thái ứng phó bị động sang chủ động thích ứng cho toàn vùng ven biển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu và Khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh ban hành năm 2001. Mô hình đánh giá tính dễ tổn thương tiếp cận theo 3 thành phần cốt lõi: Mức độ phơi nhiễm, Mức độ nhạy cảm và Năng lực thích ứng.

Chỉ số tổn thương tổng hợp được xác định là một hàm toán học phụ thuộc vào 3 thành phần trên, trong đó mức độ phơi nhiễm và tính nhạy cảm làm gia tăng tổn thương, còn năng lực thích ứng đóng vai trò giảm thiểu rủi ro. Khung sinh kế bền vững phân tích 5 nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình bao gồm: nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn tài chính, nguồn vốn con người và nguồn vốn xã hội. Bên cạnh đó, các khái niệm trọng tâm như tính dễ bị tổn thương, chiến lược sinh kế ven biển và năng lực tự phục hồi của hệ thống sinh thái nhân văn được chuẩn hóa làm thước đo đánh giá xuyên suốt.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre năm 2018, các báo cáo chuyên đề của Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; cùng dữ liệu sơ cấp thu thập từ khảo sát thực địa trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2019. Cỡ mẫu phỏng vấn được tính toán khoa học theo công thức xác định mẫu đơn ước lượng tỷ lệ với độ tin cậy 90%, hệ số tin cậy 1,645, sai số tuyệt đối 0,05 và xác suất kỳ vọng 50%, cho ra cỡ mẫu tối thiểu là 271 hộ.

Nhằm nâng cao tính đại diện cho các thành phần kinh tế, tác giả đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên phân tầng thực tế trên 294 hộ gia đình tại 9 xã ven biển: Thạnh Hải 30 hộ, Giao Thạnh 29 hộ, Thạnh Phong 28 hộ thuộc huyện Thạnh Phú; An Ngãi Tây 35 hộ, An Thủy 32 hộ, Bảo Thuận 34 hộ thuộc huyện Ba Tri; Thừa Đức 32 hộ, Bình Thắng 30 hộ, Thạnh Phước 44 hộ thuộc huyện Bình Đại.

Phương pháp phân tích thứ bậc do Thomas Saaty đề xuất được lựa chọn để thiết lập ma trận so sánh cặp, gán trọng số khách quan cho từng nhóm tiêu chí với điều kiện kiểm định tỷ số nhất quán ma trận nhỏ hơn hoặc bằng 0,1. Phần mềm thống kê chuyên dụng được ứng dụng để phân tích tương quan định lượng kinh tế xã hội, kết hợp công nghệ Hệ thống Thông tin Địa lý nhằm chồng lớp dữ liệu không gian, xuất bản bản đồ phân vùng tổn thương sinh kế trực quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả đánh giá tổng hợp chỉ số tổn thương sinh kế đã chỉ ra sự phân hóa rõ rệt giữa các địa bàn nghiên cứu theo thứ tự mức độ tổn thương giảm dần: Huyện Thạnh Phú chịu tổn thương nặng nề nhất, tiếp theo là huyện Ba Tri và thấp nhất là huyện Bình Đại. Tại huyện Thạnh Phú, các xã Thạnh Phong và Giao Thạnh ghi nhận chỉ số nhạy cảm sinh kế cao do cơ cấu kinh tế phụ thuộc lớn vào mô hình độc canh lúa - tôm và diện tích đất canh tác nước ngọt bị thu hẹp mạnh.

Về mức độ phơi nhiễm, ranh mặn 4‰ trong các đợt đỉnh điểm đã lấn sâu vào các nhánh sông chính từ 45 đến 55 km, tác động trực tiếp đến hơn 70% diện tích đất nông nghiệp của các xã ven bờ. Về năng lực thích ứng của cộng đồng, khảo sát thực tế cho thấy khoảng 58% hộ dân chưa được tiếp cận mạng lưới nước sạch tập trung, hơn 65% hộ vẫn phải phụ thuộc vào các dụng cụ trữ nước ngọt thô sơ có dung tích nhỏ. Tỷ lệ hộ dân chủ động sử dụng ứng dụng di động để theo dõi diễn biến độ mặn hàng ngày chỉ đạt mức 23,5%, trong khi có đến 62% số hộ chỉ duy trì một nguồn sinh kế độc đạo, khiến khả năng tự phục hồi kinh tế sau thiên tai suy giảm nghiêm trọng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự tổn thương nghiêm trọng tại Thạnh Phú và Ba Tri bắt nguồn từ vị trí địa lý nằm ở cuối nguồn sông Cổ Chiên và sông Hàm Luông, nơi biên độ triều cao đẩy mặn xâm nhập nhanh trong điều kiện lưu lượng nước ngọt từ thượng nguồn suy giảm. Về phương diện xã hội, nguồn vốn tài chính hạn hẹp, tập quán sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và sự thiếu hụt chuỗi liên kết thị trường đã làm giảm sức chống chịu của các hộ nghèo.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của các tác giả tại vùng duyên hải miền Trung và vịnh Bắc Bộ, khẳng định nhóm lao động nông nghiệp thuần túy và nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ luôn là đối tượng chịu tổn hại nặng nề nhất trước biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tại Bến Tre, cường độ phơi nhiễm xâm nhập mặn diễn ra khốc liệt và bao trùm hơn trên diện rộng.

Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua biểu đồ phân bố thu nhập, sơ đồ phân tích các mối liên kết thể chế và 4 bản đồ chuyên đề gồm: Bản đồ mức độ phơi nhiễm mặn, Bản đồ độ nhạy cảm kinh tế xã hội, Bản đồ năng lực thích ứng và Bản đồ tích hợp tính dễ bị tổn thương sinh kế. Các bản đồ này cho phép xác định chính xác các điểm nóng cần ưu tiên can thiệp khẩn cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực địa và phân tích không gian, bốn nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm giảm nhẹ tính tổn thương sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển Bến Tre:

Nhóm giải pháp quản lý và cơ chế chính sách: Cần hoàn thiện quy chế vận hành linh hoạt hệ thống cống đập thủy lợi và điều chỉnh lịch thời vụ xuống giống né mặn. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hộ dân tiếp cận thông tin cảnh báo sớm qua hệ thống tin nhắn và nền tảng số lên trên 90% trong giai đoạn 2021 - 2025, do Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ đạo thực hiện.

Nhóm giải pháp công trình ngăn mặn và trữ ngọt: Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình đê bao cục bộ, kiểm soát chặt chẽ 100% giếng khoan khai thác nước ngầm tầng nông nhằm chống suy thoái sụt lún, đồng thời nghiên cứu xây dựng các đập ngầm ngăn mặn tại các cửa sông lớn giai đoạn 2021 - 2026 do Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp các đơn vị chuyên môn thực hiện.

Nhóm giải pháp phi công trình và chuyển đổi mô hình sinh kế: Khuyến khích trang bị túi nhựa dẻo chuyên dụng dung tích từ 15 đến 30 m³ để trữ nước ngọt phục vụ sinh hoạt và chăn nuôi cho 100% hộ dân thuộc diện khó khăn; nhân rộng mô hình tôm - lúa thích ứng thông minh và chuyển đổi cây trồng chịu mặn giai đoạn 2021 - 2024 do Trung tâm Khuyến nông chủ trì.

Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cộng đồng: Tổ chức các chương trình tập huấn kỹ thuật đo độ mặn tại chỗ và đào tạo nghề phi nông nghiệp cho ít nhất 80% lao động thuộc hộ nghèo ven biển đến năm 2025, do chính quyền cấp huyện và các đoàn thể cơ sở điều phối.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ủy ban nhân dân các huyện Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại có thể khai thác hệ thống bản đồ số và bộ chỉ số trọng số để lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, phân bổ ngân sách đầu tư công trình thủy lợi đúng trọng tâm.

Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Giới học thuật thuộc các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Biến đổi khí hậu, Địa lý kinh tế có thể kế thừa khung phương pháp luận tích hợp giữa mô hình phân tích thứ bậc và công nghệ thông tin địa lý để mở rộng cho các nghiên cứu tại các vùng cửa sông ven biển khác.

Các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức phát triển quốc tế: Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ nhân đạo và phát triển bền vững có cơ sở dữ liệu chính xác để xác định vùng ưu tiên tài trợ các dự án nước sạch, cấp phát bồn trữ nước và xây dựng các mô hình sinh kế thích ứng dựa vào cộng đồng.

Hợp tác xã và cộng đồng cư dân vùng duyên hải: Ban quản trị các hợp tác xã nông - thủy sản cùng người dân địa phương có thể tiếp cận các hướng dẫn kỹ thuật chuyển đổi lịch mùa vụ, kỹ năng đo đạc độ mặn nguồn nước để bảo vệ an toàn diện tích nuôi trồng và cây trồng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao huyện Thạnh Phú lại có tính tổn thương sinh kế cao nhất trong ba huyện ven biển? Huyện Thạnh Phú có vị trí nằm kẹp giữa hai nhánh sông lớn là sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên với hệ thống kênh rạch chằng chịt, khiến độ mặn 4‰ xâm nhập sớm và duy trì thời gian dài. Ngoài ra, tỷ lệ hộ nghèo tại các xã ven biển của Thạnh Phú còn chiếm tỷ trọng đáng kể, sinh kế lại phụ thuộc đơn lẻ vào mô hình nuôi thủy sản quảng canh nên sức chịu đựng rất thấp khi có biến cố thời tiết.

Phương pháp phân tích thứ bậc AHP đóng vai trò gì trong việc đánh giá tính tổn thương của đề tài? Thuật toán phân tích thứ bậc AHP giúp lượng hóa các nhận định định tính của chuyên gia thành các con số trọng số cụ thể cho từng chỉ tiêu phơi nhiễm, nhạy cảm và thích ứng. Thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tỷ số nhất quán ma trận luôn dưới ngưỡng 0,1, phương pháp này loại bỏ tối đa tính chủ quan, đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học khi so sánh mức độ tổn thương giữa các xã.

Giải pháp túi nhựa trữ nước ngọt có ưu điểm gì so với các công trình trữ nước truyền thống? Túi nhựa dẻo dung tích lớn từ 15 đến 30 m³ có chi phí đầu tư thấp hơn khoảng 60% so với việc xây dựng bể chứa xi măng kiên cố, đồng thời dễ dàng lắp đặt trên nền đất yếu hay địa hình sạt lở ven kênh rạch. Trong các đợt hạn mặn gay gắt, giải pháp này giúp hàng trăm hộ dân tại các vùng cô lập bảo toàn được nguồn nước mưa ngọt hợp vệ sinh cho sinh hoạt gia đình suốt nhiều tháng.

Làm thế nào để người dân ven biển chủ động nâng cao năng lực thích ứng tự thân trước thiên tai? Cư dân địa phương cần chủ động cập nhật số liệu quan trắc mặn qua điện thoại, chuyển dịch thời vụ gieo trồng sớm hơn để tránh đỉnh hạn mặn và chủ động tham gia các tổ hợp tác sản xuất tôm - lúa luân canh. Song song đó, mỗi gia đình cần trang bị các dụng cụ trữ nước dung tích lớn trước khi mùa khô bắt đầu để giảm thiểu đến 70% nguy cơ thiếu nước ăn uống và chăn nuôi.

Quy trình đánh giá tính tổn thương trong luận văn có thể chuyển giao áp dụng cho các địa phương khác không? Khung phương pháp luận tích hợp giữa lý thuyết của tổ chức khí tượng quốc tế, ma trận phân tích thứ bậc và kỹ thuật chồng lớp bản đồ hoàn toàn có thể nhân rộng tại các tỉnh duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long như Sóc Trăng, Trà Vinh hay Bến Tre. Bộ chỉ số có tính mở cao, chỉ cần cập nhật lại thông số thủy văn và dữ liệu điều tra dân sinh đặc thù của từng địa bàn.

Kết luận

  • Xây dựng thành công bộ chỉ số định lượng đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế gồm 3 thành phần cốt lõi là mức độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng áp dụng cho 9 xã ven biển tỉnh Bến Tre.
  • Xác định chính xác thứ tự phân hạng tổn thương sinh kế trên địa bàn nghiên cứu với mức độ rủi ro cao nhất thuộc về huyện Thạnh Phú, tiếp theo là huyện Ba Tri và thấp nhất là huyện Bình Đại.
  • Số hóa và thành lập hệ thống 4 bản đồ chuyên đề Hệ thống Thông tin Địa lý giúp trực quan hóa không gian tổn thương, cung cấp công cụ khoa học phục vụ công tác quy hoạch kinh tế sinh thái.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình với lộ trình thực thi rõ ràng từ năm 2021 đến năm 2026 nhằm nâng cao năng lực chống chịu cho cộng đồng cư dân.
  • Thúc đẩy bước chuyển dịch quan trọng trong tư duy quản lý môi trường từ ứng phó thiên tai bị động sang chủ động thích ứng và kiến tạo sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hoàn thiện phương pháp đánh giá tổn thương sinh kế có sự tham gia của cộng đồng kết hợp công nghệ phân tích không gian hiện đại, giải quyết trọn vẹn bài toán thực tiễn tại vùng ven biển Bến Tre. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung hoàn thiện hệ thống đo mặn tự động và số hóa dữ liệu sinh kế hộ gia đình giai đoạn 2021 - 2025. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình để khai thác tư liệu, trao đổi học thuật và cùng chung tay nhân rộng các mô hình sinh kế thích ứng hiệu quả cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.