Chương 1 giới thiệu cơ sở hình thành luận văn, câu hỏi nghiên cứu. Chương 2 trình bày tổng quan về tình hình thủy điện vừa và nhỏ hiện nay và mô tả dự án. Chương 3 giới thiệu khung phân tích lợi ích - chi phí. Chương 4 trình bày những giả định thông số có liên quan đến dự án để thực hiện phân tích tài chính, phân tích độ nhạy và rủi ro của dự án.
Chương 5 tiến hành phân tích vấn đề kinh tế. Chương 6 nêu kết luận và gợi ý chính sách. 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VÀ MÔ TẢ DỰ ÁN Nội dung chương 2 giới thiệu tổng quan về tình hình thực hiện dự án thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay và vấn đề quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ. Đồng thời, mô tả một số thông tin về dự án nhà máy thủy điện Đắk Glun.1 Phát triển năng lượng tái tạo và thủy điện vừa và nhỏ Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta luôn phát triển với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm cao hơn các nước trong khu vực.
Để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế đó, năng lượng đóng một vai trò thiết yếu.1 cho thấy tốc độ tăng điện thương phẩm luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm. Điều này cho thấy việc tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam tiêu tốn nhiều điện năng hơn so mới mức thông thường. Nguyên nhân là do các vấn đề về sử dụng điện như: Chưa tiết kiệm điện, lượng điện thất thoát nhiều,. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm và tốc độ tăng GDP.
Nguồn: Công ty Chứng khoán Phố Wall (2010) – Báo cáo ngành điện – Cơ hội lớn từ năng lượng tái tạo Nguồn năng lượng hóa thạch dùng để sản xuất điện trên thế giới hiện nay đang dần cạn kiệt. Xăng dầu còn khoảng 43 năm, than đá 148 năm, khí gas 61 năm để sử dụng2. Gần đây, nghị định thư Kyoto còn yêu cầu các quốc gia phải tăng việc cắt giảm lượng khí thải 2 Theo công ty TNHH Công nghệ năng lượng Đông Dương truy cập tại địa chỉ www.vn/vn/home ngày 16/07/2012. 6 CO2 và các chất gây hiệu ứng nhà kính khác.
Do đó, các nguồn năng lượng tái tạo đang được xem là giải pháp để duy trì nguồn năng lượng phục vụ cho cuộc sống trong tương lai. Năng lượng tái tạo bao gồm: Thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, rác thải, khí sinh học và năng lượng điện nhiệt. Đây là những nguồn năng lượng thân thiện với môi trường. Những nguồn năng lượng này ở Việt Nam vô cùng phong phú.
Theo báo cáo của Bộ Công thương thì việc khai thác các nguồn năng lượng này còn hết sức hạn chế. Đối với thủy điện vừa và nhỏ, nhược điểm của nó là công suất thấp, lượng điện phát trên hệ thống không nhiều và chỉ phục vụ cho địa phương là chủ yếu. Vì vậy, việc ra quyết định chấp thuận phê duyệt và triển khai đối với các dự án thủy điện vừa và nhỏ là do UBND tỉnh quyết định và chỉ đối chiếu với quy hoạch đã được xác định trước đó giữa UBND tỉnh và Bộ Công thương. Bộ Công thương hoàn toàn không giám sát hay kiểm tra những dự án thủy điện vừa và nhỏ này.2 Tình hình phát triển thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam 2.1 Quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam Thủy điện vừa và nhỏ được định nghĩa ở từng quốc gia là khác nhau.
Việt Nam quy định những dự án có quy mô công suất từ 1 MW đến 30 MW được cho là thủy điện vừa và nhỏ. Năm 2005, Bộ Công nghiệp bắt đầu quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ trên toàn quốc theo quyết định số 3454/QĐ-BCN. Trên phạm vi 24 tỉnh, có 239 dự án với tổng công suất lắp máy là 1. Trong đó, các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Quảng Nam, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Kon Tum được quy hoạch riêng, không thuộc quyết định này.
Qua các nguồn tin thu thập được từ báo chí thì tác giả tìm thấy số liệu ở các tỉnh này như sau: (Chi tiết quy hoạch được nêu rõ trong phụ lục 2) - Kon Tum có 60 dự án thủy điện, công suất là 288,8 MW (InfoTV, 2007). - Hà Giang có 68 dự án thủy điện, công suất là 689 MW (Thiên Thanh, 2009). - Đắk Lắk có 101 dự án thủy điện, công suất là 198,06 MW (Thái Linh, 2006). - Đắk Nông có 60 dự án thủy điện, công suất hơn 200 MW (Minh Đức, 2007).
- Gia Lai có 74 dự án thủy điện, công suất là 494 MW (Tấn Hữu, 2012). 7 - Quảng Nam có 30 nhà máy với tổng công suất là 117,5 MW3. - Lào Cai có 110 công trình, tổng công suất là 1039 MW4. Tổng hợp các kết quả trên tại thời điểm năm 2005 thì cả nước có tổng cộng 742 dự án thủy điện được quy hoạch.
Sau nhiều lần điều chỉnh quy hoạch, đến tháng 03/2010, số dự án còn tồn tại trên 36 tỉnh là 883 thủy điện vừa và nhỏ với tổng công suất 5.880 MW, trung bình mỗi nhà máy có công suất khoảng 6,7 MW. Nhìn vào những con số trên, có thể thấy rằng trên cả nước, chỗ nào cũng có thể khai thác thủy điện vừa và nhỏ, chưa kể những dự án thủy điện có công suất lớn. Rất nhiều lần các cơ quan chức năng lên tiếng về tình trạng quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ tràn lan như vậy. Việc mỗi tỉnh có một quy hoạch riêng dẫn đến tình trạng thủy điện chồng thủy điện.
Nếu không nhanh chóng kiểm soát tình hình phát triển tràn lan thì rất dễ dẫn đến thảm họa về môi trường, đặc biệt là phá rừng làm thủy điện như các phương tiện thông tin đại chúng thường đưa tin.2 Tình hình các dự án thủy điện vừa và nhỏ hiện nay Tình trạng thủy điện vừa và nhỏ hiện nay được chia là 2 nhóm đối tượng: (1) Dự án đang triển khai hoặc đã được cấp phép nhưng chưa khởi công, (2) Dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Đối với các dự án đang triển khai, phần lớn đều gặp vấn đề về vốn. Thông thường, các chủ đầu tư chỉ bỏ ra dưới 30% vốn tự có, phần còn lại phải đi vay. Trong khi đó, đặc điểm chung của các dự án thủy điện vừa và nhỏ hiện nay đó là suất đầu tư cho mỗi MW quá lớn so với các loại nhà máy điện khác.
Lãi suất đi vay đang ở mức cao làm cho nhiều chủ đầu tư không thể tiếp tục triển khai dự án, dẫn đến chậm tiến độ. Đối với các dự án đã đi vào hoạt động thì vấn đề gặp phải là sự rủi ro về giá bán điện. Giá bán điện hiện nay cho EVN là khá thấp và lại cố định trong 25 năm. Điều này dẫn đến tình trạng các nhà máy phải chấp nhận lỗ.
Mặt khác, sản lượng điện phụ thuộc rất nhiều vào lượng mưa nên vào những năm khô hạn kéo dài thì các nhà máy này hầu như không hoạt động. Hầu hết các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đều mong muốn được EVN tăng giá mua điện để duy trì hoạt động. 3 Theo UBND tỉnh Quảng Nam – Công văn số 2184/UB-KTN ngày 04/12/2003 4 Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 – 2015 có tính đến năm 2020 8 2.3 Mô tả dự án Dự án thủy điện Đắk Glun do Công ty Cổ phần Thủy điện Đắk Glun làm chủ đầu tư thực hiện công trình thủy điện Đắk Glun 2 và Đắk Glun 3. Công trình này được xây dựng tại xã Quảng Tâm và xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
Dự án dựa trên nhánh sông chính là Đắk Glun và nhánh phụ là Đắk Klong - một trong những nhánh đổ về hồ Thác Mơ ở hạ lưu. Dự án thủy điện có kết cấu 2 bậc: - Bậc trên (thủy điện Đắk Glun 2) có công suất lắp máy dự kiến 3,9 MW, sẽ cung cấp sản lượng điện trung bình hằng năm khoảng 13,73 triệu kWh. - Bậc dưới (thủy điện Đắk Glun 3) có công suất lắp máy dự kiện 7,1 MW, sẽ cung cấp sản lượng điện trung bình hằng năm khoảng 25,63 triệu kWh. Toàn bộ sản lượng điện đã được Tập đoàn Điện lực Việt Nam chấp thuận mua, tuy nhiên, chưa có mức giá cụ thể.
Tổng vốn đầu tư dự kiến là gần 350 tỷ đồng, trong đó vốn vay là 70%, vốn đối ứng của chủ đầu tư là 30%. Đến tháng 11/2011, chủ đầu tư vẫn còn đang trong quá trình đi tìm vốn vay để thực hiện dự án, mặc dù dự án được UBND tỉnh Đắk Nông chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng vào năm 2007 và nằm trong quy hoạch phát triển thủy điện vừa và nhỏ của Đắk Nông giai đoạn 2006 – 2010 (đợt 1). Để xây dựng công trình thủy điện này, UBND tỉnh Đắk Nông phải bàn giao cho chủ đầu tư 208 ha đất, trong đó có 188,99 ha đất rừng và 19,1 ha đất không có rừng. Có thể thấy rằng, một diện tích đất khá lớn được giao cho dự án, trong đó, chủ yếu là đất rừng sản xuất.
Ban đầu, dự án được cấp phép đầu tư cho Công ty cổ phần xây dựng COSEVCO 77 với công suất lắp máy là 4,5 MW cho Đắk Glun 2 và 6,5 MW cho Đắk Glun 3. Sau đó, dự án được chuyển giao cho công ty Cổ phần Thủy điện Đắk Glun làm chủ đầu tư và thay đổi công suất lắp máy như giấy phép đầu tư hiện tại. Có thể, đây là vụ chuyển nhượng dự án sau khi đã xin được giấy phép đầu tư. Tình trạng chuyển nhượng tương tự dự án này cũng đang diễn ra một cách công khai trên các trang web rao vặt trực tuyến5.
5 Thông tin được trích dẫn từ các trang web đăng tin mua bán. Cụ thể đó là bán dự án thủy điện 10MW tại Tây Nguyên http://sanduan.php?self=detail&id=498 truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2012. 9 CHƯƠNG 3 KHUNG PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ Nội dung chương 3 trình bày khung phân tích lợi ích và chi phí của một dự án thủy điện về mặt tài chính và kinh tế. Kiến thức được kết hợp từ các tài liệu: Glenn P.Harberger (1995), Pedro Belli và đồng tác giả (2002), bài giảng môn Thẩm định đầu tư công của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright và thực tế liên quan đến dự án.1 Phân tích kinh tế Để xác định được giá trị kinh tế, cần phải xác định lợi ích và chi phí kinh tế mà dự án tạo ra.
Trên cơ sở đó, tiến hành ước lượng, định giá lợi ích và chi phí kinh tế. Kết quả phân tích kinh tế là cơ sở để đưa ra quyết định thực hiện hay không thực hiện dự án.