MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đang ngày càng phát triển, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng, trung du miền núi. Chăn nuôi đã và đang làm thay đổi chất lượng cuộc sống, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Chăn nuôi gia cầm được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh về thịt và trứng cho người tiêu dùng.
Hàng năm, ngành chăn nuôi nước ta sản xuất 350 - 380 nghìn tấn thịt hơi chiếm 17 -18 % tổng khối lượng thịt hơi các loại và 4 - 4,8 tỷ quả trứng. Trứng và thịt gà thơm ngon giá trị sản phẩm cao, tỷ lệ protein cao có đủ axit amin thiết yếu, giàu nguyên tố khoáng vi lượng làm tăng giá trị vi sinh vật học của sản phẩm. Có thể nói ngành chăn nuôi gia cầm đã đóng góp lớn lao vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống của người dân ngày càng được nâng cao.
Họ đòi hỏi thực phẩm có chất lượng cao, mùi vị thơm ngon và phải an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng. Trước nhu cầu thực tiễn sản xuất trên nhằm nâng cao cả về chất lượng và số lượng đàn gia cầm, trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tiến hành nuôi giống gà Ai Cập. Gà có đặc điểm dễ nuôi, nhanh lớn, ít bệnh tật, năng suất cao có khả năng sinh trưởng tốt, dễ thích nghi với mọi hình thức chăn nuôi tại Việt Nam. Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình dịch bệnh vẫn xảy ra nhiều và diễn biến phức tạp.
Dù chăn nuôi theo phương thức nào thì dịch bệnh cũng là e 2 một trong những yếu tố gây thiệt hại nặng nề nhất, ảnh hưởng không nhỏ cho ngành chăn nuôi. Một trong những bệnh thường gặp nhất phải kể đến là bệnh cầu trùng. Đây là bệnh do kí sinh trùng đường tiêu hóa gây ra làm cho gà sinh trưởng chậm, giảm chất lượng thịt, trứng. Nếu không được phòng trị kịp thời sẽ gây thiệt hại rất lớn về kinh tế.Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh cầu trùng gây ra trên đàn gia cầm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình mắc bệnh cầu trùng trên đàn gà Ai Cập tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu. - Từ kết quả nghiên cứu lấy đó làm cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho gà, mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. - Bản thân tập làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học. Mục tiêu của đề tài - Xác định cường độ nhiễm và tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Ai Cập.
- Xác định sự ảnh hưởng của việc dùng thuốc trong phòng và trị bệnh cầu trùng. - Xác định ảnh hưởng của việc dùng thuốc tới khả năng sinh trưởng của gà Ai Cập. Ý nghĩa của đề tài. Ý nghĩa trong khoa học.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị bổ sung thêm những hiểu biết về một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng gà và một số loại thuốc trị cầu trùng hiệu quả. Ý nghĩa trong thực tiễn. - Đánh giá khả năng điều trị bệnh của loại thuốc do viện khoa học và sự sống nghiên cứu từ đó đưa ra những liệu trình điều trị hiệu quả, kinh tế để áp dụng rộng rãi trên thực tiễn chăn nuôi. - Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài. Đại cương về cơ thể gia cầm.
Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại. Gia cầm có nhiều đặc điểm giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng sau ấp nở thành gia cầm non. Cường độ trao đổi chất của gia cầm lớn, thân nhiệt cao 40 - 42oC nhờ đó mà gia cầm sinh trưởng nhanh. * Đặc điểm sinh lí tiêu hoá và trao đổi chất ở gia cầm: Các cơ quan tiêu hóa của gia cầm bao gồm: khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy.
Sự hình thành các cơ quan tiêu hóa ở dạng nếp gấp của phôi gà bắt đầu từ ngày ấp thứ 2 (tức sau 24 giờ). Cấu tạo và chức năng của bộ máy tiêu hoá gia cầm cũng có những đặc điểm sau: + Khoang miệng: Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về phía trong để đưa thức ăn về phía thực quản, nuốt nguyên vẹn cả thức ăn sau khi thấm một lượng nhỏ nước bọt giúp làm dính và bôi trơn thức ăn dễ chuyển vào thực quản. Các tuyến ở khoang miệng gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu là nước bọt và dịch nhầy.
Trong nước bọt có chưa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với men tiêu hóa. + Hầu: Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên. Khoang mũi và miệng thông về phía hầu, còn phía trước hầu có khe hô hấp ở thanh quản. e 5 + Thực quản: Thực quản phình to thành diều.
Diều gà hình túi, trong diều có thể chứa được 100 - 120g thức ăn. Trong diều thức ăn được thấm ướt chịu tác động của nhiệt trương lên làm mềm và một phần hydrat cacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amylaza tạo ra quá trình vi sinh vật diều. Thức ăn từ thực quản xuống dạ dày rất nhanh. + Dạ dày: Từ diều, thức ăn được đưa vào dạ dày tuyến.
Dạ dày tuyến được cấu tạo từ cơ trơn và có dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ, khối lượng 4 - 6g.Thức ăn chịu tác động của dịch vị có chứa men pepsin, axit chlohdric và chất nhầy musin. Thức ăn sau khi được làm ướt sẽ được chuyển đến dạ dày cơ. Đây là một túi có dạng hình đĩa cấu tạo từ lớp cơ rất dày và khoẻ. Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá mà chỉ có chức năng nghiền nhỏ và trộn đều thức ăn với dịch vị của dạ dày tuyến.
Dưới tác dụng của men dịch vị dạ dày. Protein được phân giải thành peptone và các axit amin. + Ruột non: Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào ruột non, tại đây có các men của dịch ruột và tuyến tuỵ làm giảm nồng độ axit tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của men phân giải protein và gluxit trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu. Ở ruột, gluxit được phân giải thành các monosacarit nhờ men amylaza của dịch tuỵ và một phần của dịch ruột, protit được phân giải đến pepton và polipeptit, tiếp đó các men proteolyse của dịch tuỵ sẽ phân giải thành các axit amin, lipit thì được chuyển hoá thành glyxerin và các axit béo nhờ men lipaza.
Chất xơ được tiêu hoá một lượng nhỏ ở manh tràng nhờ quá trình hoạt động của các vi khuẩn (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [3]). Quá trình tiêu hoá trong ruột bắt đầu ở tá tràng và kết thúc ở hồi tràng. Tại đây hoạt động tiêu hoá diễn ra 85 - 95%. Ở gà, hấp thu các chất dinh dưỡng từ bộ máy tiêu hoá vào máu và lympho đều tiến hành chủ yếu ở ruột non, bao gồm các sản phẩm phân giải protit, lipit, gluxit, khoáng, vitamin và e 6 nước.
Chính vì vâ ̣y khi gà mắc bệnh cầu trùng sẽ gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến cơ thể gà. Ở manh tràng quá trình phân giải các chất trên còn tiếp tục diễn ra nhờ men ở đường ruột tồn tại và do vi sinh vật tiết ra nhưng rất ít. Thức ăn được giữ lại trong đường tiêu hoá của gà trong thời gian ngắn. Ở gà con thức ăn đi qua đường tiêu hoá hết 4 - 5 giờ.
Với gà trưởng thành là 7 - 8 giờ. Chính đặc điểm này làm cho gà sau khi nuốt phải noãn nang cầu trùng sẽ cùng thức ăn di chuyển nhanh xuống ruột non, manh tràng, trực tràng, nên quá trình xâm nhập của cầu trùng vào biểu mô ruột xảy ra rất nhanh chỉ trong vòng vài giờ, bệnh cầu trùng xảy ra nhanh, vòng đời của cầu trùng ngắn (5 - 7 ngày). Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia súc, gia cầm. Bệnh cầu trùng đã được Luvenhuch A phát hiện từ năm 1632, cách đây trên 371 năm cùng thời gian các nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá (Lê Văn Năm, 2003 [11]).
Bệnh cầu trùng là một trong những bệnh quan trọng nhất của gia cầm trên toàn thế giới. Đó là một loại bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm phổ biến ở đường tiêu hóa của gia cầm, và một số súc vật khác như: trâu, bò, lợn, thỏ. Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật, tỷ lệ chết cao nhất là ở súc vật non (tỷ lệ chết cao ở gà con có thể lên tới 80 - 100%). Ở gà đẻ bệnh cầu trùng là nguyên nhân giảm năng suất trứng từ 10 - 30% và gây tiêu chảy hàng loạt.
Tính chuyên biệt của cầu trùng Eimeria thể hiện rất rõ, chúng chỉ có thể gây bệnh cho ký chủ mà chúng thích nghi trong quá trình tiến hoá và biểu hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng mà mỗi loại cầu trùng chỉ khu trú tại một vùng, một cơ quan nào đó nhất định trong cơ thể ký chủ. Cũng là gia cầm nhưng mỗi loài lại có một số loài cầu trùng ký sinh riêng. Cầu trùng gà không ký sinh lên ngan, ngỗng… Trên cùng cơ thể nhưng mỗi loài cầu trùng lại ký e 7 sinh trên một vị trí nhất định: Cầu trùng ký sinh ở manh tràng không ký sinh ở ruột non và ngược lại.