Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tình hình chăn nuôi bò thịt ở Tiền Giang 1. Số lượng bò Tiền Giang là một trong những tỉnh sản xuất chăn nuôi trọng điểm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong tốp 10 địa phương trong cả nước về số lượng bò. Tính đến 6 tháng năm 2021, đàn bò của tỉnh là 121.397 con, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2020.
Trong số 11 huyện, thị của tỉnh có chăn nuôi bò, Châu Thành và Gò Công Tây là 2 huyện có tông đàn bò nhiều nhất, chiếm trên 35% tổng đàn bò của tỉnh. Các giống bò thịt chủ yếu của tỉnh Tiền Giang là các giống lai giữa bò Lai Sind với Charolais, Angus và BBB. Mô hình chăn nuôi bò của tỉnh chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình. Theo thống kê, số lượng bò nuôi ở các hộ gia đình chiếm hơn 95% tổng đàn bò của tỉnh (Cục thống kê chăn nuôi Việt Nam, 2021) 1.
Chăm sóc nuôi dưỡng Nguồn thức ăn thô được các hộ nuôi sử dụng làm thức ăn cho bò chủ yếu là cỏ tự nhiên, rơm, cỏ voi ., ngoài ra, người chăn nuôi con bô sung thêm các loại thức ăn tinh chủ yếu gồm cám công nghiệp, hèm bia và xác mì. Phần lớn người chăn nuôi bò không tính toán khẩu phần và chỉ cho ăn ước lượng các loại nguyên liệu thức ăn. Sự mắt cân đối về dinh dưỡng là nguyên nhân chính dẫn đến năng suất và chất lượng sữa giảm, rối loạn chuyền hóa (bệnh xê tôn huyết, bệnh axit da cỏ.), cân bằng năng lượng âm. Cân bằng năng lượng âm là nguyên nhân chủ yếu làm tăng tỷ lệ bò chậm động dục lại sau khi sinh (Nguyen-Kien và Hanzen, 2016) va làm chậm đậu thai, nên kéo đài khoảng cách hai lứa đẻ.
Ty lệ đậu thai trên bò có thé trạng kém lúc bom tinh (< 2,5 điểm) thấp hơn rất nhiều so với bò có thể trạng khá tốt (> 2,5 điểm) (29,9% so với 14,8%, P < 0,001) va số lần bơm tinh dé đậu thai trên hai nhóm này lần lượt là 6,8 và 3,3 lần (Nguyen-Kien và ctv, 2017). Ngoài ra, khâu phan mắt cân đôi cũng làm tăng nguy cơ bệnh viêm vú, sót nhau và viêm tử cung. Đặc điểm một số giống bò thịt phố biến 1. Bò Vàng Việt Nam Có nguồn gốc từ bò Vàng Trung Quốc được du nhập từ miền Nam Trung Quốc vào nước ta, theo sự đi chuyên của dân tộc ta từ Bắc xuống Nam.
Sau đó có thêm sự pha trộn với giống bò u An Độ (Bos Indicus) theo sự di dan từ tiểu lục địa An Độ (Lê Đăng Đảnh và ctv, 2004). Bò Vàng Việt Nam cũng mang một số đặc tính của bò ôn đới (Bos taurus) như tai nhỏ đưa ngang, u vai nhỏ, yếm ít phát triển. Bò ta thường có lông da màu vàng nhạt đến vàng cánh gián, tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm. Thân lép, bụng to, mông xuôi và lép; chân cao, chân sau thường cong vào bên trong hình chữ X hay gọi là chạm khoeo.
Khối lượng trưởng thành trung bình của bò cái là 180 kg và của bò đực là 250 kg. Bò Vàng có tỉ lệ thịt xẻ thấp, chỉ đạt 43 — 44% và có sản lượng sữa rất thấp. Tuổi phối giống lần đầu khoảng 15 — 18 tháng tuôi. Bò Sind Từ những năm 1920 — 1924 giống bò Red Sindhi của An Độ va Pakistan được nhập vào nước ta ở cả Bắc và Nam để lai với bò cái Vàng và con lai gọi là bò Lai Sind (Lê Hồng Mận và Lê Văn Phong, 2001).
Bò có màu nâu đỏ, đỏ vàng hoặc màu đỏ. Tai to rủ xuống, u to, yếm rộng và nhiều nếp nhăn, âm hộ có nhiều nếp nhăn. Da có thé rung cục bộ dé đuôi ruồi, muỗi. Nếu tỉ lệ mau Sind cao trên 50% thì hình dang của bò lai Sind gần giống bò Sind (Nguyễn Văn Thu, 2010).
Bò trưởng thành: bò đực cao 1,3 m va nặng: 320 — 440 kg/con; con cái: 1,1 m và nặng 275 kg/con. Khối lượng bê sơ sinh: 17 — 20. Bò lai Sind thành thục lúc 20 tháng tuổi. Sản lượng sữa trong một chu kỳ 240 — 270 ngày dat được từ 1.
Bò lai Sind còn được dùng lai với bò chuyên thịt thành bò lai hướng thịt hoặc lai với bò đực chuyên dụng sữa thành bò lai hướng sữa. Trong những năm qua, chương trình quốc gia Sind hóa đàn bò trong cả nước đã nâng tỷ lệ bò lai Sind lên trên 30% tổng đàn bò của cả nước (Đinh Văn Cải, 2007). Bò Red Angus Bò Angus (tên đầy đủ là Aberdeen Angus) là một giống bò thịt có nguồn gốc từ vùng cao nguyên phía Bắc Scotland. Toàn thân bò có màu đen hoặc màu đỏ, van vàng đỏ nhạt.
Là giống có ngoại hình, thé chất chắc chắn, khỏe mạnh. Bò thường không có sừng và thích nghi tốt với điều kiện khí hậu các nước nhiệt đới như Việt Nam. Là giống dé thích nghị, ít bệnh tật, có lợi ích kinh tế lớn cho nhà chăn nuôi. Bò có chất lượng thịt tốt, có vân mỡ trắng xen kẽ trong những thớ thịt giúp thịt mềm và và có vị béo rất đễ chịu (Đinh Văn Cải, 2007).
Trọng lượng bê sơ sinh: 24 — 30 kg, trọng lượng 6 tháng tuổi: 150 — 180 kg, bò đực lúc trưởng thanh: 800 — 1.000kg, bò cái lúc trưởng thành: 550 — 700 kg, Tốc độ tăng trưởng nhanh: 1.000 gram/ngày, Tốc độ tăng trưởng lúc vỗ béo: 1.000 g/ngay, tỷ lệ thịt xẻ: trên 70% (60% thịt + 40% xương). Bò cái trưởng thành năng 550 — 650 kg, bò đực 800 — 950 kg. Nuôi thịt lúc 15 tháng tuổi bê đực đạt 450 — 460 kg, bê cái 350 — 450 kg. Tỷ lệ thịt xẻ bình quân 65 — 67%.
Bò thích hợp với vùng khí hậu ôn đới và nuôi chăn thả (Dinh Văn Cai, 2007). Bò Brahman Đây là giống bò nhiệt đới, lớn con, thân dài, khá sâu, lưng thang có chân trung bình đến dài. Sắc lông thường có màu xám nhạt, nhưng đôi khi có màu đỏ, đen hay đốm trắng đen. Bò đực trưởng thành có sắc lông sậm hơn bò cái với vùng cô, vai, đùi và hông có lông màu sậm hơn.
Bê sơ sinh thường có màu lông màu đỏ sau đó đổi nhanh qua màu xám. Da khá dày, mềm, đàn hồi tốt và thường có sắc tố. Cổ khá dài, tai to và sụp. U to ở bò đực nhưng nhỏ ở bò cái; yếm phát triển (Lê Đăng Danh và ctv, 2004).
Trọng lượng bê sơ sinh: 20 — 30 kg, Trọng lượng 6 tháng tuổi: 120 — 150 kg Bò đực trưởng thành: 700 — 1.000 kg, bò cái trưởng thành: 450 — 600 kg, tốc độ tăng trưởng nhanh: 650 — 800 g/ngày, giai đoạn vỗ béo bò tăng trọng: 1.500 g/ngay, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ: 12 — 14 tháng, động dục lần đầu: 15 — 18 tháng tuổi. Là giống bò nuôi con giỏi, đẻ dé, lành tinh. Bê đực Brahman có khả năng tăng trọng tốt. Tỷ lệ thịt xẻ 52 — 55%.
Nhược điểm của giéng này là hiệu quả sinh sản chưa cao, bò cái tơ có tuôi phối giống lần đầu muộn (trên 24 tháng), khoảng cách lứa đẻ 15 — 17 tháng/lứa. So với các giống bò chuyên thịt ôn đới thì vóc dáng còn cao, chất lượng thịt cũng chưa cao do thớ thịt còn thô và mùi vị chưa chưa thơm bằng bò thịt ôn đới (Dinh Van Cải, 2007). Bò Charolais Có nguồn gốc từ vùng Charole nước Pháp. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 16 giống bò này được tuyên chọn theo hướng chuyên thịt từ đàn bò cày kéo ở vùng này và đến khoảng đầu thế ky thứ 18 thì hình thành được giống bò chuyên thịt với vóc đáng to lớn (Lê Đăng Danh và ctv, 2004).
Giống này là lớn nhanh, to con, co bắp nỗi rõ vì vậy khối lượng thịt xẻ cao. Bò có tính trầm, hiền lành và chịu kham khổ. Con đực nặng 1.300 kg con cái 700 — 800kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt trên 65%. Đây là nguyên liệu tốt dé lai kinh tế với các giống bò khác dé tạo ra con lai hướng thịt.
Nhược điểm của bò Charolais là chất lượng thịt chưa cao như bò Angus. Bê sơ sinh có khối lượng lớn nên nhiều ca sinh khó, tỷ lệ nuôi sông của bê chưa cao (Lê Hồng Mận và Lê Văn Phong, 2001). Bò đực trưởng thành giống Charolais khối lượng có thể đạt 800 — 900 kg ở 500 ngày tuôi. Trưởng thành đạt 1.450 kg, cao vai 147 — 156 cm, dai thân chéo 204 — 220 cm, vòng ngực 244 — 270 cm (Dinh Văn Cải, 2007).
Bò Blanc Bleu Belge (BBB) Theo Lê Đăng Danh va ctv, (2004), từ năm 1919, chính phủ Bi đề ra chương trình tuyên chọn một giống bò kiêm dụng có hình dang đẹp, hình chữ nhật có cấu trúc cơ bắp trung bình và cho sữa tốt. Do đó giống bò địa phương của Bi với bò Shorthorn cùa Pháp được chọn lai tạo và chọn lọc qua nhiều đời. Giống này có tầm vóc lớn, gon gàng nhưng có bộ xương chắc chắn, cau trúc tương đối với sườn cong, có phần thịt thăn, mông và đùi rất phát triển, mông dốc. Đầu nhỏ, hơi rộng, trán phẳng, mom rộng, cô dai; sừng ngắn, chìa ngang ở bò đực và hơi cong về phía sau ở bò cái.
Bò BBB có ba sắc lông chính được di truyền từ bò Shorthorn là trắng, xanh đa trời và đen với ty lệ lông đen thấp nhất (Lê Đăng Danh và ctv, 2004). Giống bò này được tuyển chon theo hướng triển đưỡng trên hầu hết các cơ bắp làm cho thịt mềm và ít mỡ; tỷ lệ các phần thịt hạng cao nhất. Tỷ lệ thịt xẻ 66 — 70%, tỷ lệ xương khoảng 13,5% và mỡ 7,5%. Trong lượng bò đực trưởng thành 1.250 kg, cao vai 145 — 150 cm, còn ở bò cái trưởng thành 800 — 900 kg, cao vai 132 — 134 em.
Có một số bò đực cân nặng trên 3. Giống này có tốc độ tăng trong cao, tăng trọng bình quân trong thời điểm 7 — 13 tháng tuổi ở bò đực là 1,5 kg/ngày và ở bò cái là 1,2 kg/ngày; tiêu tốn thức ăn ở độ tuổi nảy là 5,5 đến 7 kg vật chất khô thức ăn/kg tăng trọng (Lê Đăng Đảnh và ctv, 2004). Đặc điểm cơ thể học bộ phận sinh dục bò cái Bộ phận sinh dục của bò cái từ sau ra trước gồm: âm đạo và âm hộ, cô tử cung, thân và sừng tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng (Hình 1. Cơ quan sinh dục bò cái (Nguyễn Xuân Trạch, 2007) 1.
Âm hộ và âm đạo Âm hộ là phần bên ngoài của cơ quan sinh dục bò, gồm hai mép khép kín lại với nhau dé ngăn chặn sự xâm nhập của vi sinh vat va vật lạ. Bình thường hai mép âm hộ có dạng thắng đứng hướng xuống đất.