CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến TNTT và XDCĐAT 1. Khái niệm về TNTT: TNTT là những thương tổn thực thể trên cơ thể do tác động của năng lượng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện hoặc phóng xạ.) với những mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người. Ngoài ra TNTT còn do thiếu hụt các yểu tố cần thiết cho sự sống (ví dụ như: đuối nước, bóp nghẹt hoặc đông lạnh) [14].
Khái niệm về cộng đồng: Cộng đồng có thể là một vùng dân cư hẹp đến một quốc gia (như cộng đồng là một làng, xã, một vùng sinh thái, một quốc gia hay một khu vực. Trong phạm vi xây dựng CĐAT ở Việt Nam, cộng đồng được qui định là một xã/phường/thị trấn bao gồm những người dân sống trong đơn vị hành chính là xã/phường/thị trấn. Mỗi cộng đồng cỏ những vấn đề an toàn riêng và phụ thuộc vào kiến thức, thái độ, hành vi về an toàn của các cá nhân trong cộng đồng và môi trường sống (bao gồm môi trường tự nhiên, xã hội, công nghệ, chính trị, kinh tế và tổ chức) của cộng đồng đó. Vì vậy, trong xây dựng cộng đồng an toàn ngoài những tiêu chuẩn chung còn có những nét đặc thù riêng của từng cộng đồng [17].
Khái niệm về an toàn: Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “An toàn là trạng thái có thể kiểm soát được các yểu tổ nguy cơ đối với con người về mặt thể chất, tinh thần để duy trì và nâng cao sức khoẻ của cá nhân và cộng đồng”. An toàn có nghĩa rộng hơn là không có bạo lực và thương tích. Như vậy khi nói tới an toàn bao giờ cũng phải nghĩ tới hai khái niệm không có thương tích và môi trường không có nguy cơ gây thương tích [17]. Khái niệm về Cộng đồng an toàn: CĐAT là cộng đồng có khả năng kiểm soát và phòng ngừa được tất cả các loại TNTT và các YTNC gây TNTT tại cộng đồng trong mọi lĩnh vực [17], 5 1.
Phân loại TNTT 1. Phân loại theo chủ định: TNTT không chủ định (vô ý): Là thương tích gây nên không có chủ ý của những người bị hoặc của những người khác: ngã, TNGT (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không); đuối nước; bỏng; ngộ độc (do ăn uống, do hóa chất, do thuốc men); súc vật cắn; hóc nghẹn. TNTT có chủ định: Là những thương tích xảy ra do có sự chủ ý của người bị TNTT hay của cả những người khác, ví dụ: hành hạ trẻ em; đánh nhau; tự tử; giết người; chiến tranh; bạo lực gia đình. Phân loại TNTT theo nguyên nhân: TNGT: là những trường hợp tai nạn xảy ra do va chạm bất ngờ, nằm ngoài ý muốn của con người; xảy ra khi các đổi tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột suất không kịp phòng tránh gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe.
Ngã: là những trường hợp bị ngã, rơi từ trên cao hoặc ngã trên cùng một mặt bằng. Ngạt thở: là tất cả các trường hợp xảy ra do nguyên nhân nào đó gây tắc nghẽn đường hô hấp dẫn đến ngạt do thiếu ô xy hoặc ngừng tim trong vòng 24h hoặc cần đến sự chăm sóc y tể hoặc các biến chứng khác. Đuối nước: là những trường hợp xảy ra do bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng, dầu) dẫn đến bị ngạt do thiếu ô xy hoặc ngừng tim dẫn đen tử vong trong vòng 24h. Do vật sắc nhọn: là những trường hợp bị cắt, rách do tác động trực tiếp của các vật sắc nhọn trong gia đình như dao, kéo.
Ngộ độc: là những trường hợp hít phải, ăn vào, tiêm vào cơ thể các loại độc tổ dẫn đến tử vong hoặc cần đến sự chăm sóc y tế. Tổn thương theo ngộ độc còn có thể phân theo nguyên nhân: ngộ độc thức ăn hoặc ngộ độc do các chất độc khác. 6 Cháy/bỏng: là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa. Các tổn thương do sự phát xạ của các tia cực tím, hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như tổn thương phổi do khói xộc vào cũng được coi là những trường hợp bỏng.
Động vật, côn trùng tấn công: là những trường hợp tổn thương do động vật/côn trùng tấn công, húc, đốt phải. Vật cùn rơi vào: là những trường hợp nạn nhân bị tổn thương do tác động của vật cùn lên cơ thể. Điện giật: là những trường hợp do tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện dẫn đến bị TNTT hoặc tử vong. Bom mìn nổ: là những trường hợp trực tiếp bom mìn nổ gây sát thương cho nạn nhân.
Tự tử/có ý định tự tử: là những trường họp cố ý (có chủ định) gây tổn thương cho mình [5]. Các yếu tố nguy cơ 1. Các yếu tố nguy cơ từ môi trường: Tác nhân vật lý: nhiệt, điện. Tác nhân cơ học: ngã, va đập do giao thông, thể thao, động vật tấn công.
Tác nhân hóa học: hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất xét nghiệm. Tác nhân sinh học: ngộ độc thức ăn, côn trùng đốt. Các yếu tố nguy cơ tờ con người: Yếu tố tâm lý xã hội: sự căng thẳng thần kinh, công việc đơn điệu, quan hệ trong gia đình và xã hội không tốt. Đặc tính cá nhân: cẩu thả, không cẩn thận.
Yếu tố bệnh lý: mắc một số bệnh mãn tính, mệt mỏi trong lao động, học tập. Kiến thức, kinh nghiệm, hành vi. Tuổi đời, trình độ kỹ thuật. Nguy cơ trong gia đình: Nhà cửa, cầu thang, lan can không chắc chắn.
Hồ ao không rào. Bếp nấu, nơi để xăng ga không an toàn. Chó mèo không được tiêm phòng, không có xích và rọ mõm. Thuốc chữa bệnh không bảo quản cẩn thận.
Nguy cơ ở nơi công cộng: Hồ bơi, trượt nước không đủ tiêu chuẩn. Vườn thú không an toàn. Sân bóng, nhà thi đấu chật hẹp, phương tiện cũ không chắc chắn. Đu quay, tàu lượn, tàu trượt không đảm bảo an toàn [5].
Tình hình TNTT trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình TNTT trên thế giói: Thương tích hiện là vấn đề sức khỏe công cộng nghiêm trọng ở khắp mọi nơi trên thế giới với số tử vong ước tính đang ngày càng tăng và là một trong những nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Theo báo cáo của tổ chức Y tế Thể giới năm 2008, mỗi năm có khoảng 5 triệu người tử vong liên quan TNTT, TNTT và bạo lực chiếm 9% nguyên nhân tử vong, nhiều hơn tất cả các nguyên nhân gây tử vong khác do AIDS, sốt rét, lao trên thế giới, trong đó có đến 8 trong 15 nguyên nhân gây tử vong ở độ tuổi từ 15 đến 29 là có liên quan đển TNTT và TNTT là nguyên nhân khoảng 10 triệu trường hợp nhập viện khẩn cấp [29]. Mức độ TNTT rất khác nhau giữa các nước và giữa các khu vực, nhìn chung tỷ lệ tử vong do thương tích cao hơn ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, chiếm trên 90% tử vong toàn cầu do thương tích và bạo lực.
Tại khu vực Tây Thái Bình Dương số tử vong mỗi năm do thương tích là 1,2 triệu người hay 3.300 người chết một ngày. Tại khu vực Đông Nam Á hàng năm có khoảng 1,4 triệu trường hợp tử vong do TNTT đóng góp 16% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Ước tính cứ mỗi trường hợp tử vong có 10-20 trường họp phải nhập viện, 50 trường hợp phải cấp cứu và trên 100 trường họp bị thương nhẹ [17]. I 8 Trong số các nguyên nhân gây thương tích, thương tích do giao thông đường bộ là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng thương tích ở mọi khu vực.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có 1,2 triệu người bị chết do các vụ va chạm đường bộ mỗi năm và khoảng 50 triệu người bị thương. Con số này dự đoán sẽ tăng lên khoảng 65% trong vòng 20 năm tới nếu không có cam kết cho việc phòng chống và sẽ là nguyên nhân thứ ba của gánh nặng bệnh tật và thương tích toàn cầu [17]. Ngoài thương tích do giao thông đường bộ, rất nhiều nguyên nhân thương tích khác xảy ra trong cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm, phòng chống như ngã, bỏng, đuối nước, ngộ độc, tự tử và đặc biệt là thương tích ở trẻ em. Theo Báo cáo Thế giới về phòng chống thương tích ở trẻ em của WHO và UNICEF công bố: hàng năm có 900.000 trẻ em dưới 18 tuổi bị chết do TNTT và con số này trên thực tế còn cao hơn rất nhiều.
Thương tích không chủ ý là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong đối với trẻ em trên 9 tuổi, trong đó TNGT đường bộ và đuối nước chiếm gần một nửa số thương tích không chủ ý ở trẻ em. TNTT ở trẻ em vẫn đang là vấn đề ở các nước thu nhập cao và chiếm khoảng 40% toàn bộ số ca tử vong ở trẻ, trong khi đó tỷ lệ này ở các nước thu nhập thấp và trung bình là trên 95% [20]. Tổn thất về kinh tế và xã hội do thương tích là rất lớn. Hàng triệu người trên toàn cầu đang phải đổi mặt với cái chết hoặc tàn tật của các thành viên trong gia đình do thương tích.
Ước tính tổn thất toàn cầu do thương tích giao thông đường bộ là khoảng 518 tỷ đô la Mỹ cho một năm. Các TNTT trong lao động gây tổn thất tương đương 4% tổng sản phẩm xã hội toàn cầu. Khoảng 80% gánh nặng TNTT nằm trong các nước đang phát triển mà các nước này chiếm khoảng 80% dân sổ, chi phí này cũng chiếm khoảng 65 tỷ đô la Mỹ, nhiều hơn khoản viện trợ các nước này nhận được cho phát triển kinh tế [17]. Tình hình TNTT ở Việt Nam: Hai mươi năm đổi mới đã đem lại một diện mạo nhiều thay đổi cho tình hình kinh tế, xã hội của Việt Nam, tuy nhiên nó cũng kéo theo rất nhiều những vấn đề sức khỏe trong quần thể trong đó TNTT là một vấn đề nghiêm trọng.
9 Theo số liệu thống kê của Cục Y tế dự phòng và Môi trường năm 2009 về tình hình TNTT tại 59 tỉnh/thành phố có 1.113 trường hợp mắc TNTT, trong đó có 7.799 trường hợp tử vong chiếm tỉ lệ 0,7%, giảm 0,08% so với năm 2008. Nhóm tuổi 20-60 có tỉ lệ mắc và tử vong do TNTT cao nhất (tương ứng là 62,5% và 66,7%); tiếp theo là nhóm 15-19 tuổi (14,4% và 10,5%); 5-14 tuổi (10,5% và 6,8%); nhóm 0-4 tuổi (5,7% và 4,8%).