Luận văn đánh giá thực trạng bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa và một số phương pháp điều trị trên bò sữa tại trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ ba vì

Bài viết đánh giá thực trạng bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa và phương pháp điều trị hiệu quả tại Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng Cỏ Ba Vì.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2021

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. MỤC LỤC

1.1. Mục đích chuyên đề và yêu cầu của chuyên đề

1.2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.3.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập

1.3.2. Vài nét về đặc điểm tự nhiên của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội

1.3.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.3.2.1.1. Vị trí địa lý
1.3.2.1.2. Khí hậu thủy văn
1.3.2.1.3. Địa hình đất đai
1.3.2.2. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội
1.3.2.2.1. Tình hình xã hội
1.3.2.2.2. Tình hình phát triển kinh tế
1.3.2.2.3. Cơ cấu tổ chức quản lý của Trung tâm Bò và đồng cỏ Ba Vì
1.3.2.2.4. Tình hình sản xuất của cơ sở

1.3.3. Tình hình chăn nuôi bò sữa

1.3.3.1. Tình hình chăn nuôi bò sữa trong nước

1.4. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

1.4.2. Nội dung nghiên cứu

1.4.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4.3.1. Phương pháp thu thập mẫu
1.4.3.2. Phương pháp tìm ký sinh trùng
1.4.3.3. Phương pháp xác định thành phần, loài ký sinh trùng đường máu ký sinh trên bò có mặt tại Ba Vì - Hà Nội
1.4.3.4. Phương pháp khảo sát một số đặc điểm bệnh lý học bệnh ký sinh trùng đường máu ký sinh trên bò có mặt tại thực địa
1.4.3.5. Phương pháp khảo sát một số đặc điểm dịch tễ học bệnh ký sinh trùng đường máu ký sinh trên bò có mặt tại thực địa
1.4.3.6. Phát hiện ve bằng phương pháp đếm số lượng ve trên cơ thể bò

1.4.4. Vật liệu nghiên cứu

1.4.5. Phương pháp xử lý số liệu

1.4.6. Phương pháp xác định tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm bằng phương pháp khảo sát và điều tra về mức độ nhiễm trên thực địa

1.5. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1.5.1. Khảo sát tình hình chăn nuôi bò sữa trên địa bàn trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội

1.5.1.1. Cơ cấu đàn bò theo lứa tuổi
1.5.1.2. Cơ cấu đàn bò theo phẩm giống
1.5.1.3. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường máu theo tuổi bò
1.5.1.4. Cường độ nhiễm ký sinh trùng đường máu trên đàn bò sữa nuôi tại Ba Vì - Hà Nội
1.5.1.5. Thành phần giống, loài ký sinh trùng đường máu ký sinh trên bò sữa tại Ba Vì - Hà Nội
1.5.1.6. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên đàn bò sữa
1.5.1.7. Phác đồ điều trị và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh biên trùng
1.5.1.7.1. Phác đồ điều trị bệnh Biên Trùng ở bò sữa Ba Vì - Hà Nội
1.5.1.7.2. Đề xuất biện pháp phòng bệnh Biên trùng ở bò sữa Ba Vì - Hà Nội
1.5.1.8. Kết quả điều trị những con có triệu chứng lâm sàng
1.5.1.9. Kết quả mắc bệnh của một số bệnh khác trong thời gian thực tập

2. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ

Tóm tắt

I. Đánh giá thực trạng bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa tại Ba Vì

Bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa tại Ba Vì đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong những năm gần đây. Theo thống kê, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở các lứa tuổi khác nhau của bò sữa cho thấy sự gia tăng đáng kể. Cụ thể, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường máu ở bò sữa nuôi tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì đã tăng lên 30% trong năm 2020. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn bò mà còn tác động tiêu cực đến năng suất sữa. Các triệu chứng lâm sàng như sốt, thiếu máu, và suy nhược cơ thể đã được ghi nhận. Việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là rất cần thiết để giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi. Theo các chuyên gia, việc kiểm soát bệnh ký sinh trùng đường máu cần được thực hiện đồng bộ từ khâu chẩn đoán đến điều trị và phòng ngừa.

1.1. Tình hình nhiễm ký sinh trùng

Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên bò sữa tại Ba Vì đã được khảo sát kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy, các loại ký sinh trùng như Babesia và Anaplasma là phổ biến nhất. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở bò cái tơ và bò sinh sản cao hơn so với bò non. Điều này có thể do sức đề kháng của bò non còn yếu. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng. Các biện pháp phòng ngừa như tiêm phòng và kiểm soát môi trường sống cũng cần được chú trọng. Theo một nghiên cứu gần đây, việc áp dụng các biện pháp này đã giúp giảm tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng xuống 15% trong năm 2021.

II. Phương pháp điều trị bệnh ký sinh trùng đường máu

Phương pháp điều trị bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa tại Ba Vì hiện nay chủ yếu dựa vào việc sử dụng thuốc kháng ký sinh trùng. Các loại thuốc như Imidocarb và Diminazene aceturate đã được sử dụng rộng rãi. Kết quả điều trị cho thấy, tỷ lệ hồi phục của bò nhiễm ký sinh trùng đạt khoảng 80% sau khi điều trị. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc cần được thực hiện theo đúng chỉ định của bác sĩ thú y để tránh tình trạng kháng thuốc. Ngoài ra, việc kết hợp điều trị bằng các biện pháp hỗ trợ như dinh dưỡng hợp lý và chăm sóc sức khỏe cũng rất quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy, bò được chăm sóc tốt có khả năng hồi phục nhanh hơn và giảm thiểu nguy cơ tái nhiễm.

2.1. Các biện pháp điều trị

Các biện pháp điều trị bệnh ký sinh trùng đường máu bao gồm việc sử dụng thuốc kháng ký sinh trùng, tiêm vaccine phòng bệnh, và cải thiện chế độ dinh dưỡng cho bò. Việc tiêm vaccine phòng bệnh đã được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng. Bên cạnh đó, việc theo dõi sức khỏe định kỳ và kiểm tra mẫu máu cũng là những biện pháp cần thiết để phát hiện sớm bệnh. Theo các chuyên gia, việc áp dụng đồng bộ các biện pháp này sẽ giúp nâng cao sức khỏe của đàn bò và tăng năng suất sữa.

III. Đề xuất giải pháp phòng ngừa bệnh ký sinh trùng

Để phòng ngừa bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa, cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ. Đầu tiên, việc nâng cao nhận thức cho người chăn nuôi về bệnh ký sinh trùng là rất quan trọng. Các chương trình tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật cần được tổ chức thường xuyên. Thứ hai, việc kiểm soát môi trường sống của bò cũng cần được chú trọng. Cần đảm bảo chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát và không có côn trùng gây hại. Cuối cùng, việc áp dụng các biện pháp tiêm phòng và điều trị định kỳ sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh. Theo một nghiên cứu, việc thực hiện các giải pháp này đã giúp giảm tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng xuống 10% trong năm 2021.

3.1. Nâng cao nhận thức cho người chăn nuôi

Nâng cao nhận thức cho người chăn nuôi về bệnh ký sinh trùng đường máu là một trong những giải pháp quan trọng. Các chương trình tập huấn cần được tổ chức thường xuyên để cung cấp thông tin về cách phòng ngừa và điều trị bệnh. Việc chia sẻ kinh nghiệm giữa các hộ chăn nuôi cũng rất cần thiết. Theo các chuyên gia, việc nâng cao nhận thức sẽ giúp người chăn nuôi chủ động hơn trong việc phòng ngừa bệnh, từ đó giảm thiểu thiệt hại cho đàn bò sữa.

13/02/2025
Luận văn đánh giá thực trạng bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa và một số phương pháp điều trị trên bò sữa tại trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ ba vì

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Hiện nay, trên thế giới có 1500 triệu con bò sữa nhưng được phân bố không đều giữa các châu lục. Sự phân bố này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và địa lý tự nhiên của mỗi nước và tập trung chủ yếu ở châu Châu Âu, Bắc Mỹ, và Châu Úc. Các nước ở Châu Phi và Châu Á chủ yếu nuôi bò hướng thịt và cày kéo. Trong những năm gần đây, các nước Châu Á như: Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam đã chú trọng và có nhiều dự án phát triển chăn nuôi bò sữa.

Thái Lan, Malaixa, Philipin, Indonexia và Việt Nam là các nước có nghề sản xuất sữa chưa phải truyền thống, chỉ nuôi bò hạn chế ở 1 số vùng với giống bò có nguồn gốc từ Châu Âu và Bắc Mỹ, đòi hỏi đầu tư và trình độ kỹ thuật cao, lao động lành nghề Năm 1958, nước ta nhập giống bò lang đen trắng Bắc Kinh về nuôi thử tại Ba Vì (Hà Nội), Sa pa (Lào Cai), Đồng Giao (Ninh Bình). Năm 1968, nhập tiếp bò lang trắng đen Bắc Kinh về thích nghi nuôi ở Ba Vì, nhưng khả năng phát triển kém, tỷ lệ loại thải cao, năng suất sữa thấp nên đã được chuyển sang Mộc Châu. Sau đó nước ta tiếp tục nhập các giống bò sữa HF và nhận chuyển giao kĩ thuật từ CuBa. Ba Vì là một huyện có điều kiện khí hậu và đồng cỏ thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi bò và bò sữa đặc biệt là chăn nuôi bò sữa chiếm số lượng lớn và điều đó tạo điều kiện cho bệnh ký sinh trùng xảy ra nhiều hơn.

Những năm trước đây tại Trung tâm nghiên cứu Bò và đồng cỏ Ba Vì ít phát hiện thấy bệnh ký sinh trùng đường máu trên đàn bò đặc biệt là bò sữa nuôi đại trà mà chỉ thấy bệnh xảy ra ở những con bò được mua từ nơi khác về trong những tháng đầu. Đầu năm 2020 trên đàn bò sữa nuôi tại Trung tâm đã 2 xảy ra hiện tượng nhiều bò bị nhiễm ký sinh trùng đường máu và cho đến nay bệnh vẫn xuất hiện, tiến triển ngày càng phức tạp hơn gây ảnh hưởng lớn cho người chăn nuôi bò sữa. Trước tình hình đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “đánh giá thực trạng bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữavà một số phương pháp điều trị trên bò sữa tại trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì”. Mục đích chuyên đề và yêu cầu của chuyên đề Thực hiện đề tài nhằm mục đích sau: - Khảo sát nghiên cứu và đánh giá về tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên bò sữa ở tại Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì - Hà Nội.

- Tìm hiểu các đặc điểm về dịch tễ, căn bệnh của bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa. - Xác định được thành phần giống, loài của ký sinh trùng đường máu ký sinh trên bò sữa. - Xác định được tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm ký sinh trùng đường máu trên bò sữa. - Xác định được đặc điểm bệnh lý học của bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa.

- Đề xuất một số giải pháp phòng bệnh ký sinh trùng đường máu hiệu quả. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học của các bệnh ký sinh trùng gây nên trên bò sữa và mối liên hệ của nó với vật chủ trung gian truyền bệnh, nhằm bổ sung cho cơ sở lý luận về tình hình các bệnh ký sinh trùng đường máu trên bò sữa. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp cho người chăn nuôi bò sữa có thêm kiến thức trong phòng chống bệnh ký sinh trùng đường máu trong khi nuôi bò sữa.

4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cở sở nơi thực tập 2. Vài nét về đặc điểm tự nhiên của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, tiền thân là Nông trường Quốc doanh Ba Vì được thành lập năm 1958, hiện đang quản lý 135 hộ gia đình Trung tâm có 43 cán bộ công nhân viên chức, biên chế thành 2 trại chăn nuôi. Trung tâm quản lý 2 hợp tác xã chăn nuôi bò sữa (Hài Hòa 1, Hài Hòa 2 tại xã Vân Hòa - huyện Ba Vì), 1 xưởng chế biến nhỏ, 1 trạm nghiên cứu đồng cỏ, 1 trạm xá, 5 phòng ban chức năng phục vụ cho công tác nghiên cứu và sản xuất.

Do công suất của xưởng chế biến quá nhỏ chỉ thực hiện hoạt động thu mua và sơ chế tiệt trùng ban đầu không có việc chế biến, đóng gói sản phẩm đa dạng nên đa số sản lượng sữa lại giao cho các nhà máy khác ngoài vùng Ba Vì. Ba Vì, với điều kiện tự nhiên và khí hậu thích hợp, đã được quy hoạch thành vùng chăn nuôi bò sữa từ thời Pháp thuộc và đã trở thành “cái nôi” của ngành chăn nuôi bò sữa ở miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt từ khi Quyết định 167/2001/QĐ-TT được bạn hành, chăn nuôi bò sữa ở Ba Vì đã phát triển rất nhanh ở quy mô hộ gia đình. Trong nhiều năm qua, Trung tâm khuyến nông Quốc gia có sự hợp tác thường xuyên và chặt chẽ với Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì trong việc tổ chức các lớp đào tạo tập huấn cho bà con nông dân, cán bộ khuyến nông các tỉnh; in ấn sách kỹ thuật, tờ rơi… Trong thời gian tới, Trung tâm tăng cường tổ chức các lớp đào tạo huấn luyện nhằm chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ đến bà con nông dân, cán bộ khuyến nông đạt hiệu quả cao.

Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ 5 Ba Vì thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã có chính sách đầu tư để thúc đẩy đàn bò sữa lên, vì vậy sản lượng sữa của cả nước cũng như trong 4 vùng Ba Vì tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó Trung tâm với sự hợp tác Quốc tế để phát triển bò sữa với các tổ chức: Thế giới trong Hài Hòa, JICA - Nhật Bản đội ngũ kỹ thuật trong Trung tâm được tham gia huấn luyện nâng cao tay nghề và cung cấp các thiết bị kỹ thuật để nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe cho đàn bò sữa thuộc Trung tâm. Chính nhờ được đầu tư đầy đủ, quản lý chặt chẽ và sự chỉ đạo tốt của Trung tâm mà sức khỏe của bò được cải thiện nhiều, sản lượng sữa ngày càng được nâng cao cả về chất lượng và số lượng. Điều kiện tự nhiên 2.Vị trí địa lý Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì là đơn vị nghiên cứu sự nghiệp trực thuộc Viện Chăn nuôi đóng trên địa bàn xã Vân Hòa - huyện Ba Vì, cách trung tâm huyện Ba Vì 20km về phía Nam, xã Vân Hòa có diện tích đất khá rộng khoảng 17km².

Trong đó: Phía Bắc giáp xã Tản Lĩnh Phía Nam giáp xã Yên Bài Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây Phía Tây giáp vườn Quốc Gia Ba Vì 2. Khí hậu thủy văn Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Các yếu tố khí tượng trung bình nhiều năm ở trạm khí tượng Ba Vì cho thấy: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 230C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6 0C. Tổng lượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm).

Lượng mưa các 6 tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất là tháng 8 (339,6mm). Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ 200C , tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,80C; Lượng mưa các tháng biến động từ 15,0 đến 64,4mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15mm. Địa hình đất đai Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng. Đất đai được chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng và nhóm đất vùng đồi núi.

Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội 2. Tình hình xã hội Nhìn chung tình hình dân cư quanh trung tâm còn nghèo, chưa phát triển so với các xã khác của huyện, nhưng mấy năm trở lại đây với sự phát triển của nghề chăn nuôi bò sữa nhiều hộ nông dân đã thoát nghèo và coi nghề chăn nuôi bò sữa là nghề làm giàu và họ quyết định chuyển diện tích trồng lúa, chè, sắn sang chuyên canh trồng cỏ. Cũng nhờ nghề nuôi bò sữa mà bộ mặt vùng quê nghèo của Thủ đô đang từng ngày thay da đổi thịt. Tình hình phát triển kinh tế Quá trình hoạt động và nghiên cứu của Trung tâm dựa trên nguồn vốn của nhà nước cấp.

Mọi chính sách đối với người lao động đều được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật do vậy tạo được tâm lý thoải mái và tin tưởng cho người lao động 2. Cơ cấu tổ chức quản lý của Trung tâm Bò và đồng cỏ Ba Vì Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, tiền thân là Nông trường Quốc doanh Ba Vì được thành lập năm 1958, Trung tâm có 41 cán bộ công nhân viên chức biên chế thành 2 trại chăn nuôi. Trong đó: 7 + Trình độ tiến sĩ: 03 + Thạc sĩ: 15 + Kĩ sư: 31 + Công nhân: 07 Trung tâm quản lý 1 hợp tác xã chăn nuôi bò sữa, 1 xưởng chế biến nhỏ, 1 Trạm nghiên cứu đồng cỏ, 4 phòng ban chức năng phục vụ cho công tác nghiên cứu và sản xuất. Do công suất của xưởng chế biến quá nhỏ chỉ thực hiện hoạt động thu mua và sơ chế tiệt trùng ban đầu không có việc chế biến, đóng gói sản phẩm đa dạng nên đa số sản lượng sữa lại giao cho các nhà máy khác ngoài vùng Ba Vì.

Tình hình sản xuất của cơ sở Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã có chính sách đầu tư để thúc đẩy đàn bò sữa lên, vì vậy sản lượng sữa của cả nước cũng như trong vùng Ba Vì tăng lên đáng kể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ