Đặt vấn đề Trám đen (Canarium tramdenum) là cây lâm đặc sản có giá trị kinh tế cao và có ý nghĩa quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo của người dân tỉnh Thái Nguyên, làm giàu rừng và cải tạo vườn tạp. Gỗ dùng xẻ ván, làm nhà, đóng dụng cụ thông thường. Nhựa cây Trám đen thơm ngát, dễ cháy, dùng để chế biến sơn,vecni, xà phòng, dầu thơm và làm hương. Quả cây Trám đen ăn ngon nhất trong các loại Trám, dùng để: kho cá, kho thịt, đồ xôi, có thể muối để ăn dần (thường ngâm trong nước mắm), quả Trám đen dùng giải độc cá chữa ăn nhầm cá nóc có độc, ăn phải cá thối, hóc xương cá, chữa nứt nẻ da do khô lạnh lở ngứa nhất là lở miệng không há ra được và trị sâu răng.
Rễ dùng trị phong thấp đau lưng gối tê liệt cử động. Lá trị cảm mạo, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, sang thũng ghẻ lở. Phú Bình là một huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên. Huyện Phú Bình nằm ở phía Nam của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 26km.
Tài nguyên đất đai của Phú Bình có nhiều chủng loại nhưng phân bố không tập trung. Nhìn chung đất đai Phú Bình được đánh giá là có chất lượng xấu, nghèo chất dinh dưỡng.Với tài nguyên đất đai như vậy, hiệu quả sản xuất nông nghiệp không cao. Tuy nhiên, đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khi cần lấy đất ở một số vùng để xây dựng các khu công nghiệp, chi phí đền bù đất sẽ thấp hơn nhiều so với các vùng đồng bằng trù phú và ít ảnh hưởng tới an ninh lương thực của quốc gia hơn.Trong diện tích đất lâm nghiệp của huyện hiện không còn rừng tự nhiên. Toàn bộ diện tích rừng của huyện là rừng trồng, chủ yếu là cây Keo.
Hà Châu là một xã thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Xã nằm ở phía Tây nam của huyện, với nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên việc áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ e 2 thuật vào sản xuất còn hạn chế nên hiệu quả kinh tế còn thấp. Mặt khác tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gây nên những vấn đề bức thiết ở địa phương.
Những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự đồng tình của người dân, Nhà nước đã đầu tư trồng và phát triển cây Trám đen tại xã và tạo được thu nhập tương đối ổn định từ cây Trám đen, tuy nhiên việc trồng Trám đen ở xã vấn còn nhiều vấn đề cần xem xét, hiệu quả kinh tế chưa cao. Vì vậy cần có những đánh giá chính xác để đưa ra được giải pháp khắc phục hạn chế đó. Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế cây Trám đen tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Tìm hiểu thực trạng trồng Trám đen tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng Trám đen tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. - Xác định những khó khăn, thuận lợi trong việc trồng Trám đen và từđó có thể đưa ra một số giải pháp giúp người dân nâng cao hiệu quả trồng Trám đen. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp cho sinh viên củng cố kiến lại kiến thức, hệ thống hóa kiến thức đã học, vận dụng những kiến thức mà người học tiếp thu được trong quá trình học tập tại trường vào thực tiễn, cọ sát học hỏi kinh nghiệm. Rèn luyện kĩ năng làm việc thực tế, kĩ năng làm việc và tiếp xúc với người dân và kĩ năng viết đề tài tốt nghiệp cho sinh viên, giúp sinh viên biết được những thiếu sót của mình trong khi thực hiện đề tài và từ đó rút kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau.
e 3 - Ý nghĩa trong thực tiễn + Đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế cây Trám đen tại xã Hà Châu + Tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển mô hình trồng Trám đen và từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục khó khăn và phát huy hiệu quả kinh tế của cây Trám đen tại địa phương. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cở sở khoa học 2. Khái quát về cây Trám đen Cây Trám đen còn có tên gọi khác là Bùi, mác bây (Tày, Nùng), mác Cơm (miền Trung),Cà na (miền Nam).
Trám đen thuộc chi Trám (Canarium), họ Trám (Bureraceae). Tên khoa học là Canarium tramdenum. Chi Trám (danh pháp khoa học: Canarium) là một chi các loài cây thân gỗ trong họ Burseraceae, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi và miền nam châu Á, từ miền nam Nigeria về phía đông tới Madagascar, Mauritius, Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Philipin. Chúng là các loại cây thường xanh thân gỗ lớn cao tới 40-50m, với các lá mọc đối hình chân chim.
Một số loài có quả ăn được, gọi là quả Trám C. ovatum thuộc về số các loài cây có hạt quan trọng nhất ở miền Đông Indonesia và miền Tây Nam Thái Bình Dương cũng như ở Philipin. Các loài khác, quan trọng nhất là C. luzonicum, sản xuất ra nhựa gọi là dầu trám.
Hình thái: cây gỗ lớn, cao 25-30m, đường kính 60-90cm hay hơn. Thân thẳng, phân cành cao khi mọc trong rừng, nhưng nếu mọc ngoài sáng, cây phân cành sớm, tántoả rất rộng. Vỏ ngoài màu nâu nhạt, thịt thơi hồng, có nhựa mủ đen với mùi thơm rất đặc biệt.Lá kép lông chim 1 lần lẻ, lá chét hình thuôn, trái xoan, dài 6-12cm, rộng 3-6cm, chất lá cứng, ròn, mặt trên bóng, mặt dưới sẫm hơn, đầu và gốc lá hơi lệch. Gân bên 8-10 đôi, không có lá kèm.
Lá ở cây con khác với cây trưởng thành, thường là lá đơn nguyên hay xẻ, sau mới chuyển dần sang dạng l kép. Cụm hoa chùm hình viên chuỳ, thường dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn. Hoa tạp tính hay đơn tính, màu trắng vàng nhạt, cuống có lá bắc dạng vảy, cuống hoa dài 1,5-2cm.Quả hạch hình trứng, dài 3,5-4,5cm, rộng 2-2,5cm, khi chín màu đen sẫm, thịt hồng hạt hoá gỗ rấtcứng, 3 ô, mỗi ô có nhân hạt màu trắng và nhiều dầu. Vùng phân bố cây Trám đen trên thế giới Trám đen phân bố ở: Trung Quốc (Vân Nam, Hải Nam, Hồng Kông), Lào, Campuchia, Thái Lan.
Vùng phân bố cây Trám đen ở Việt Nam Cây phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam của Việt Nam. Các tỉnh phía Bắc có nhiều Trám đen mọc nhất là: Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình. Các tỉnh phía Nam có Trám đen mọc là: Quảng Nam, Đắk Lắk và Khánh Hoà. Đặc điểm sinh học và công dụng a.
Đặc điểm sinh học Cây phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Thường gặp trong các rừng nhiệt đới thường xanh, ở độ cao từ khoảng 50-800m, tập trung nhiều ở độ cao 100-400m trên mặt biển. Cây thường gặp nhiều ở sườn hoặc chân núi đất, rất ít khi gặp trên đỉnh núi, thường cùng mọc với Lim, Trám trắng, Chẹo tía, Gội nếp, Gội trắng. Các ưu hợp Lim + Trám trắng + Trám đen khá phổ biến trong các kiểu rừng kín thường xanh ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ trước kia, nhưng hiện nay thường chỉ còn lại dấu vết ở các vùng núi và trung du của nước ta.
Cây ưa đất sét hoặc sét pha, sâu ẩm và thoát nước, độ pH 4,5-5,5, nhưng cũng gặp Trám đen phát triển tốt trên đất cát có nhiều phù sa ven sông. Là loài cây ưa sáng khi trưởng thành, nhưng hơi ưa bóng nhẹ khi còn non. Từ 1 tuổi trở lên cây có thể mọc nơi ánh sáng hoàn toàn, vì vậy ít gặp cây con tái sinh ở dưới tán rừng có độ phủ trên 0,6. Ở chiều cao khoảng 1m, nếu không được mở sáng mạnh cây Trám con có thể bị chết.
Trám đen tái sinh mạnh ở nơi có độ tàn che 0,2-0,3, nơi bìa rừng, nơi rừng bị khai thác mạnh hoặc rừng cây tiên phong định vị. Sau khi trồng 8-10 năm cây ra hoa, kết quả. Thời gian ra quả kéo dài hàng trăm năm. Tuổi thọ của cây Trám đen có thể trên e 6 trăm năm.
Do lá có mùi thơm, vị hơi chua nên các cây Trám đen con mới trồng dễ bị các loài thú đến ăn lá và ngọn non. Ở giai đoạn 1-3 tuổi Trám đen cũng dễ bị sâu đục ngọn làm chết cây. Cây ra hoa vào tháng 3-5, quả chín vào tháng 8-11. Công dụng Quả Trám đen đã được dùng làm thực phẩm rất lâu đời ở Việt Nam.
Quả Trám “ỏm” là món ăn quen thuộc trong các bữa cơm của các gia đình ở miền Bắc trước kia. Từ quả Trám có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon như: Trám kho cá, Trám nhồi thịt. Quả Trám còn được dùng để làm ô mai mặn, ngọt được nhiều người ưa thích. Nhân hạt Trám chứa nhiều dầu béo, có vị bùi, có thể ăn sống, ép dầu hoặc làm nhân bánh.
Quả Trám còn được dùng làm thuốc vì có tác dụng giải khát, sinh tân dịch, thanh lọc, giải độc rượu. Lá có vị hơi đắng, hơi chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chỉ thống. Vì vậy quả Trám dùng giải độc rượu, cá nóc hoặc chữa hóc xương cá. Dùng quả Trám đen ở Việt Nam tươi giã nát, vắt lấy nước uống hoặc sắc uống.
Nếu dùng ngoài, dịch nước của quả chữa da nứt nẻ do khô lạnh, lở ngứa, nhất là lở miệng không há mồm ra được, chữa sâu răng bằng cách dùng quả và hạt Trám đốt, tán nhỏ và bôi vào chân răng. Rễ cây Trám dùng chữa phong thấp, đau lưng, gối tê liệt cử động. Lá trị cảm mạo, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, phù thũng, ghẻ lở. Ở Trung Quốc (tỉnh Vân Nam) dùng rễ Trám trị đau dạ dày, bỏng lửa, lá dùng trị xuất huyết tử cung, ban độc, quả trị nội thương xuất huyết, ho, vỏ rễ dùng trị nội thương thổ huyết.
Nhựa Trám đen có thể dùng thắp sáng hoặc dùng trong công nghệ véc ni sơn. Nhưng nhựa Trám đen thường ít và chóng khô đặc hơn Trám trắng, nên ít khi khai thác nhựa từ cây Trám đen. Gỗ Trám đen nhẹ, mềm, màu xám trắng, giác lõi không phân biệt, có thể dùng làm nhà, đóng đồ, làm gỗ dán lạng, bút chì, diêm, bột giấy. Trám là cây đa mục đích được chọn làm cây trồng trong các vườn rừng, và các khu rừng phòng hộ đầu nguồn.
Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn Trám đen là cây cho quả ăn rất quen thuộc ở Việt Nam, đồng thời cũng là cây đa tác dụng.