ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây diện t ch rừng trồng ở nƣớc ta liên tục tăng nhanh qua các năm. Trong giai đoạn từ 2002 đến 2016, diện t ch rừng trồng ở nƣớc ta đã tăng từ 1,92 triệu ha lên gần 4,14 triệu ha, trung bình tăng 184.000 ha/năm, góp phần nâng độ che phủ rừng toàn quốc lên 41,19%. Mặc dù diện t ch rừng trồng tuy tăng nhanh nhƣng chủ yếu là kinh doanh gỗ nhỏ nhƣ sản xuất dăm gỗ và bột giấy xuất kh u với giá trị thấp. Trong các năm 2013 - 2015 trung bình mỗi năm chúng ta khai thác khoảng 13 triệu m3 gỗ rừng trồng cho sản xuất dăm xuất kh u và phải nhập trung bình khoảng 4 triệu m3 gỗ lớn, có chứng chỉ FSC và PEFC từ nƣớc ngoài để phục vụ chế biến đồ mộc xuất kh u.
Ngoài ra, năng suất và chất lƣợng rừng trồng vẫn chƣa đƣợc cải thiện nhiều, sản lƣợng rừng trồng giảm dần theo chu kỳ kinh doanh, số lƣợng các giống mới đƣợc công nhận ứng dụng vào thực tiễn sản xuất còn thấp,… Để khắc phục những tồn tại nêu trên, ngày 10/6/2013 Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong đó đã xác định: “Phát triển lâm nghiệp nhằm tăng giá trị kinh tế ngành và tăng năng lực, hiệu lực bảo vệ môi trường rừng, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Phấn đấu đến năm 2020 đạt cơ cấu kinh tế ngành là: 25% giá trị dịch vụ môi trường rừng, 25% giá trị sản xuất lâm sinh và 50% giá trị công nghiệp chế biến. Để thực hiện mục tiêu đề án, cần: Tập trung phát triển và tăng tỷ lệ rừng kinh tế trong tổng diện tích rừng của cả nước, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng theo hướng phát triển đa chức năng, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ khai thác gỗ non xuất khẩu dăm gỗ sang khai thác gỗ lớn nhằm tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp gỗ cho công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu, giảm dần nhập khẩu gỗ nguyên liệu. Để triển khai có hiệu quả Quyết định 899/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Ch nh phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành một loạt các văn bản quan trọng sau: 2 - Quyết định số 1656/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
- Quyết định 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18/4/2014 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lƣợng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014-2020. - Quyết định 986/QĐ-BNN-KHCN ngày 9/5/2014 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Kế hoạch thúc đ y nghiên cứu và ứng dụng KHCN phục vụ tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hƣớng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Theo đó, những nhiệm vụ trọng tâm là: Tập trung xây dựng 3,84 triệu ha rừng trồng sản xuất, trong đó có 2,4 triệu ha rừng trồng hiện có và 1,35 triệu ha rừng trồng mới, hàng năm khai thác và trồng lại khoảng 250.000 ha; Nâng cao chất lượng rừng để đạt sản lượng gỗ thương phẩm bằng 80% trữ lượng, trong đó 40% gỗ lớn và 60% gỗ nhỏ; Đưa tỷ lệ giống cây trồng lâm nghiệp mới được công nhận vào sản suất lên 60 - 70% vào năm 2020, đảm bảo cung cấp đủ giống có chất lượng, góp phần đưa năng suất rừng trồng tăng 10% vào năm 2015 và tăng 20% vào năm 2020 so với năm 2011; Ưu tiên nghiên cứu xác định gói kỹ thuật tối ưu về chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng cung cấp gỗ lớn, trồng lại rừng sau khai thác, trồng rừng mới theo hướng thâm canh,… Phú Thọ là tỉnh có diện t ch rừng trồng khá lớn, đây cũng là tiềm năng phát triển rừng trồng gỗ lớn, hơn nữa trên địa bàn tỉnh bƣớc đầu đã có những mô hình phát triển gỗ lớn, tuy nhiên chƣa có những đánh giá cụ thể về vấn đề này. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài: ―Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở tỉnh Phú Thọ” đặt ra là cần thiết và có ngh a khoa học và thực tiễn.
3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về giống Trong giai đoạn 1990 - 2000, các nghiên cứu cải thiện giống đã tập trung vào việc tìm ra các xuất xứ có năng suất cao. Các khảo nghiệm xuất xứ ở một số nƣớc đã cho thấy biến dị di truyền về sinh trƣởng, độ thẳng thân và một số tính chất về cành là rất lớn, đặc biệt có sự khác biệt giữa 3 vùng phân bố tự nhiên khác nhau của Keo tai tƣợng (Papua New Guinea - PNG, Queensland - Qld và North Teritory - NT), cũng nhƣ sự khác nhau rõ rệt giữa các xuất xứ của cùng một vùng địa lý.
Các xuất xứ có nguồn gốc từ PNG có sinh trƣởng nhanh hơn so với các xuất xứ có nguồn gốc từ Qld và NT (Awang & Taylor, 1993) [25]. Các xuất xứ có nguồn gốc từ Far North Queensland (FNQ) thể hiện khả năng chống chịu gió mạnh tốt nhất (Susumu & Rimbawanto, 2004) [51], theo đó 5 xuất xứ có triển vọng đƣợc xác định tại Malaysia là Western Province (PNG), Claudie River (Qld), Broken Pole Creke (Qld), Abergowrie (Qld) và Olive River (Qld) (Khamis bin Selamat, 1991) [42]; 3 xuất xứ có triển vọng của Keo tai tƣợng tại Trung Quốc là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld), và Oriomo (PNG) (dẫn từ Nguyễn Hoàng Ngh a, 2003) [11]; 4 xuất xứ tốt nhất ở Philippin là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), và Claudie River (Qld) (Baggayan & Baggayan, 1998) [26]. Giai đoạn 2000 - 2010, các nghiên cứu biến dị di truyền ở mức độ gia đình mới bắt đầu đƣợc chú trọng nhằm cải thiện các tính trạng sinh trƣởng, chất lƣợng thân cây và tỷ trọng gỗ. Các kết quả đã chỉ ra rằng biến dị di truyền về sinh trƣởng và chất lƣợng thân cây của loài keo này biến động từ thấp tới trung bình (Nirsatmanto & Kurinobu, 2004 [49]; Arnold & Cuevas, 2003 [24]; Susumu & Rimbawanto, 2004 [51]), trong khi biến dị di truyền là trung bình cho tỷ trọng gỗ (Susumu & Rimbawanto, 2004) [51].
Nhìn chung, tƣơng quan di truyền giữa sinh trƣởng và chất lƣợng thân cây là tƣơng quan dƣơng (Arnold & Cuevas, 2003) [24], tức là cải thiện sinh trƣởng cũng đồng thời cải thiện chất lƣợng thân cây. 4 Tăng thu di truyền thực tế của các lô hạt thu từ vƣờn giống thế hệ 2 tại Indonesia đạt 3,1% - 5,2% cho sinh trƣởng và độ thẳng thân tốt. Chọn lọc tổng hợp 3 tính trạng này đƣợc khuyến nghị sử dụng để chọn lọc gia đình (Nirsatmanto et al. Tƣơng tác di truyền - hoàn cảnh cũng đã xác định là có ngh a giữa Sumatra và Kalimantan, Indonesia, tuy nhiên tƣơng tác này phụ thuộc vào tuổi và tính trạng nghiên cứu (Susumu & Rimbawanto, 2004) [51].
Tại Brazil, một số lô thí nghiệm 6 - 8 tuổi, rừng trồng Bạch đàn đã cho tăng trƣởng 70 - 90 m3/ha/năm (Eldridge, 1993) [31]. Công ty Aracruz ở Brazil đã sử dụng cây lai E. urophylla và nhân giống bằng hom, trong rừng trồng thực nghiệm 5,5 tuổi đạt bình quân 70 m3/ha/năm (Turnbull, 1998) [52], một số công thức thí nghiệm đạt trên 100 m3/ha/năm (Eldridge, 1993) [31]. Bên cạnh thể tích thân cây, các tính trạng khác cũng cho tăng thu đáng kể nhƣ khối lƣợng thể tích gỗ tăng từ 480 lên 490 kg/m3, năng suất bột giấy từ 47% lên 49%, hàm lƣợng vỏ giảm từ 18% xuống còn 12% (Turnbull, 1998) [52].
Các nghiên cứu của Trung tâm Kỹ thuật Lâm Nghiệp Nhiệt đới ở Công Gô khẳng định tăng trƣởng bình quân năm ở tuổi 6 của các lô hạt chƣa đƣợc tuyển chọn là 12 m3/ha/năm trong khi tăng trƣởng của các xuất xứ đã đƣợc chọn lọc là 25 m3/ha/năm và tăng trƣởng của các dòng vô t nh đƣợc chọn lọc là 35 m3/ha/năm. Ở Colombia, một chƣơng trình cải thiện giống ngắn hạn đã đƣợc đề xuất và triển khai thực hiện cho một số loài Bạch đàn nhƣ E. Từ chƣơng trình này, 65 dòng vô t nh trong đó có 15 dòng tốt nhất đã đƣợc dùng để sản xuất hom cho giai đoạn trƣớc mắt. Do cƣờng độ chọn lọc thấp nên năng suất rừng trồng dự kiến chỉ tăng khoảng 15%.
Từ năm 1983 một chƣơng trình nghiên cứu ở Nam Phi đã đƣợc bắt đầu bằng việc chọn và nhân hom các cây trội đƣợc tuyển chọn tại chỗ và từ các khảo nghiệm hậu thế, khảo nghiệm cây Bạch đàn lai của Viện Nghiên cứu rừng Nam Phi, sau đó xây dựng các khảo nghiệm dòng vô tính nhằm chọn đƣợc các dòng vô tính có triển vọng nhất. Kết quả đã đƣợc các nhà nghiên cứu thông báo trên cơ sở các rừng trồng so sánh 30 tháng tuổi. Trong khảo nghiệm thực hiện với 30 dòng vô tính tuyển chọn 5 tại chỗ, tăng trƣởng bình quân về thể tích cây con từ hạt (cây đối chứng) là 19,4 m3/ha/năm, trong khi đó có 14 dòng vô t nh vƣợt trội đối chứng và tăng trƣởng bình quân năm của dòng tốt nhất đạt khoảng 24,4 m3/ha/năm. Trong một khảo nghiệm khác gồm 78 dòng vô t nh đƣợc chọn lọc từ các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 của Viện Nghiên cứu rừng Nam Phi và các dòng vô tính thế hệ 1 của vùng Mondi, cây con từ hạt (đối chứng) đạt tăng trƣởng bình quân năm là 21,9 m3/ha/năm trong khi đó có 50 dòng trong số 78 dòng vô tính của Viện vƣợt đối chứng, 9 dòng vô t nh đạt trên 30 m3/ha/năm và 3 dòng vô t nh tốt nhất đạt tăng trƣởng bình quân năm là 40 m3/ha/năm [6] 1.
Nghiên cứu rừng trồng gỗ lớn các loài cây mọc nhanh Mật độ trồng rừng gỗ lớn th ch hợp đƣợc xác định nhằm tối ƣu sinh trƣởng đƣờng k nh và thể t ch cây rừng. Đối với Keo tai tƣợng, các nghiên cứu tại Indonesia đều cho thấy cự ly trồng rừng gỗ lớn th ch hợp là 3 x 3 m (1.110 cây/ha) (Awang & Taylor 1993; Hardiyanto et al. 2004; Krisnawati et al. Tƣơng tự, mật độ th ch hợp trồng rừng gỗ lớn Keo tai tƣợng tại Malaysia cũng đƣợc xác định là hoặc 3 x 3 m (1.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khuyến cáo có thể trồng mật độ cao hơn để cây có thể tỉa cành tự nhiên tốt hơn, giảm k ch thƣớc cành lớn và rủi ro nhiễm nấm bệnh, sau đó tỉa thƣa định kỳ khi cây trồng có mức độ cạnh tranh ánh sáng mạnh (Weinland và Zuhaidi, 1991) [54].