CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm Những khái niệm chính được sử dụng trong luận văn có mối liên hệ logic và hệ thống, để tập trung vào nội dung nghiên cứu là đề xuất được giải pháp tăng cường sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân sinh sống tại Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn, cụ thể: Ý tưởng về sinh kế được đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của Chambers vào những năm 1980. Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của Ellis, Barret và Reardon… Có rất nhiều định nghĩa về sinh kế như sau: Chambers và Conway (1992) cho rằng sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để đảm bảo phương tiện sinh sống. Sinh kế có thể được diễn tả như là sự kết hợp của các nguồn tài nguyên được sử dụng và các hoạt động được thực hiện để sống.
Các tài nguyên đó có thể bao gồm cả các khả năng và kỹ năng của con người (vốn con người), đất đai, tiền tiết kiệm và trang thiết bị (vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn vật chất), và các dịch vụ hỗ trợ chính thức hoặc không chính thức cho các hoạt động (vốn xã hội) (Farrington và cs, 1999). Trong nhiều nghiên cứu của mình, Ellis (2010) cho rằng sinh kế bao gồm những tài sản, những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội) và theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hay nông hộ. Sinh kế (livelihood): Có nghĩa là nghề nghiệp hoặc việc làm và cũng có nghĩa là con đường để kiếm sống. Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống (DFID, 1999).
e 6 Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Chiến lược sinh kế (livelihoods strategy): Là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu kiếm sống: - Sự chọn lựa chiến lược sinh kế phụ thuộc vào việc tiếp cận các loại vốn nào; - Mỗi chiến lược sinh kế cần một sự kết hợp các loại vốn khác nhau. Tuy nhiên mỗi loại vốn có thể sử dụng cho nhiều chiến lược khác nhau (Bộ Tài Nguyên & MT, CCWG, 2015). Sinh kế bền vững (sustainable livelihood): Tiếp tục được hoàn thiện nội hàm bởi DFID.
Sinh kế bền vững là sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên (DFID, 1999, 2007) Tiếp cận sinh kế bền vững (The sustainable livelihoods approach): là một cách cải thiện sự hiểu biết về sinh kế của người nghèo. Nó dựa trên các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người nghèo và các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố này. Nó có thể được sử dụng để lên các kế hoạch hoạt động mới và đánh giá các hoạt động hiện có để tạo ra sinh kế bền vững. Cách tiếp cận này đưa ra một khung tiếp cận giúp hiểu biết về sự phức tạp của nghèo đói đồng thời đưa ra một bộ các nguyên tắc hướng dẫn hành động nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói (Carney, 2009) Vườn Quốc gia (National Park): Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009, được sửa đổi, bổ sung bởi: Luật số 35/2018/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
VQG phải có các tiêu chí chủ yếu sau đây: e 7 - Có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên; - Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; - Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; - Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái. Theo nghị định 156/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp Vườn quốc gia đáp ứng các tiêu chí sau đây: - Có ít nhất 01 hệ sinh thái tự nhiên đặc trưng của một vùng hoặc của quốc gia, quốc tế hoặc có ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam hoặc có trên 05 loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; - Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; - Có diện tích liền vùng tối thiểu 7.000 ha, trong đó ít nhất 70% diện tích là các hệ sinh thái rừng. Khu bảo tồn loài - sinh cảnh (Species-habitat conservation area): Theo nghị định 156/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp Khu bảo tồn phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: - Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu hoặc loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; - Phải bảo đảm các điều kiện sinh sống, thức ăn, sinh sản để bảo tồn bền vững các loài sinh vật đặc hữu hoặc loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; - Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; - Có diện tích liền vùng đáp ứng yêu cầu bảo tồn bền vững của loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. e 8 Vùng đệm (buffer zone): là vùng rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng.
Cộng đồng (community): Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục, tập quán. Sinh kế bền vững Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ, nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp thủy sản). Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo( Nguyễn Bá Long, 2006). Vì mục tiêu này, chúng ta xem xét khái niệm sinh kế và phân tích sinh kế cho người dân vùng đệm.
Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”. Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế. Kể từ Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro ở Brazil năm 1992, Phát triển bền vững đã trở thành xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ lực hướng tới. Theo đó, trong phát triển nông thôn xuất hiện xu hướng phát triển sinh kế bền vững bao gồm cả các mục tiêu giảm nghèo (Bộ TN & MT và CCWG, 2015).
Trước đây, hoạt động sinh kế được hiểu là những phương tiện kiếm sống nhằm phục vụ nhu cầu cơ bản của cuộc sống (Ví dụ: thực phẩm, chỗ ở, quần áo, thuốc men. Khái niệm về sinh kế bền vững cũng được hiểu là những nỗ lực để xoá đói giảm nghèo (Krantz, 2001). Tuy nhiên, các khái niệm đó chưa bao quát e 9 được hết mọi khía cạnh của hoạt động sinh kế, đặc biệt là các nguồn lực làm hạn chế hoặc tăng cường khả năng của con người. Khái niệm về sinh kế bền vững được Chambers và Conway (1992)mở rộng hơn.
Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể được đứng đầu và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế ti ếp; đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn (Chambers & Conway, 1992). Dựa trên nền tảng nghiên cứu điển hình của Chambers và Conway, đã có rất nhiều lập luận được điều chỉnh cho khái niệm sinh kế bền vững. Đặc biệt quan trọng là đóng góp của Scoones và các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) tại trường Đại học Sussex, Vương quốc Anh; Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID). Tổ chức DFID đã xây dựng khung sinh kế bền vững như là một công cụ nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người.
Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể (Hình 1). Scoones (1998) định nghĩa hoạt động sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những khủng hoảng; duy trì, tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên”. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2002).