Luận Án Tiến Sĩ: Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Rừng Trồng Sản Xuất Ở Đồng Nai

Luận án tiến sĩ phân tích lâm nghiệp đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng sản xuất trên địa bàn, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

201
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Đánh giá rừng trồng

Đánh giá rừng trồng là bước đầu tiên trong việc xác định hiện trạng và tiềm năng phát triển của rừng trồng sản xuất tại Đồng Nai. Luận án đã phân tích chi tiết về diện tích, chủ thể quản lý, và cơ cấu cây trồng. Theo số liệu, tỉnh Đồng Nai có tổng diện tích rừng trồng là 59.014,4 ha, trong đó rừng trồng sản xuất chiếm 18.923,90 ha. Các loài cây trồng chủ yếu bao gồm Keo lai, Keo lá tràm, Dầu rái, và Sao đen. Tuy nhiên, việc quản lý rừng trồng còn gặp nhiều khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, và năng suất chưa tương xứng với tiềm năng.

1.1. Diện tích và chủ thể quản lý

Diện tích rừng trồng sản xuất tại Đồng Nai được phân bố chủ yếu ở các huyện như Trảng Bom, Long Thành, và Nhơn Trạch. Các chủ thể quản lý bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp, và các tổ chức lâm nghiệp. Tuy nhiên, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và phân tán khiến việc áp dụng công nghệ tiên tiến gặp nhiều khó khăn.

1.2. Cơ cấu cây trồng

Cơ cấu cây trồng tại Đồng Nai chủ yếu là Keo lai, chiếm hơn 70% diện tích rừng trồng. Tuy nhiên, việc trồng lặp lại nhiều chu kỳ Keo lai trên cùng thửa đất đã dẫn đến tình trạng suy thoái đất và giảm năng suất. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đa dạng hóa cơ cấu cây trồng để đảm bảo tính bền vững.

II. Giải pháp phát triển rừng

Giải pháp phát triển rừng được đề xuất trong luận án nhằm khắc phục những hạn chế hiện tại và thúc đẩy sự phát triển bền vững của rừng trồng sản xuất tại Đồng Nai. Các giải pháp bao gồm việc tăng cường liên kết giữa các chủ rừng, đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, và cải thiện nguồn vốn đầu tư. Đặc biệt, việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững (FSC) được xem là yếu tố then chốt để nâng cao giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường.

2.1. Liên kết giữa các chủ rừng

Một trong những giải pháp quan trọng là thúc đẩy liên kết giữa các chủ rừng nhỏ lẻ thành các hợp tác xã hoặc nhóm hộ. Điều này giúp tăng quy mô sản xuất, giảm chi phí, và dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi. Tuy nhiên, việc thực hiện cần sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ chức lâm nghiệp.

2.2. Đa dạng hóa cơ cấu cây trồng

Để giảm thiểu tình trạng suy thoái đất, luận án đề xuất đa dạng hóa cơ cấu cây trồng bằng cách bổ sung các loài cây bản địa như Dầu rái, Sao đen, và Gõ đỏ. Điều này không chỉ cải thiện chất lượng đất mà còn tăng giá trị kinh tế và bảo vệ đa dạng sinh học.

III. Phát triển bền vững rừng trồng sản xuất

Phát triển bền vững rừng trồng sản xuất là mục tiêu chính của luận án, nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế, xã hội, và môi trường. Tại Đồng Nai, việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững (FSC) đã được triển khai tại Công ty Lâm nghiệp La Ngà với diện tích 9.354,4 ha. Tuy nhiên, để mở rộng mô hình này, cần có sự hỗ trợ từ chính sách và nguồn vốn đầu tư.

3.1. Áp dụng tiêu chuẩn FSC

Việc áp dụng tiêu chuẩn FSC không chỉ giúp nâng cao giá trị sản phẩm gỗ mà còn đảm bảo tính bền vững trong quản lý rừng. Tuy nhiên, quy trình chứng nhận FSC còn phức tạp và tốn kém, đòi hỏi sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế và chính phủ.

3.2. Cải thiện nguồn vốn đầu tư

Để thúc đẩy phát triển rừng trồng sản xuất, cần cải thiện nguồn vốn đầu tư thông qua các chính sách vay vốn ưu đãi và kéo dài thời gian vay. Điều này giúp các chủ rừng có đủ nguồn lực để đầu tư vào các mô hình trồng rừng thâm canh và bền vững.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng sản xuất trên địa bàn tỉnh đồng nai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý rừng bền vững Khái niệm Quản lý rừng bền vững được phát triển dựa trên khái niệm phát triển bền vững. Quản lý rừng bền vững là quản lý rừng để đồng thời đạt được cả 3 mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường cho thế hệ hiện tại và các thế hệ tương lai.

Việt Nam định nghĩa Quản lý rừng bền vững như sau: “Quản lý rừng bền vững là phương thức quản trị rừng bảo đảm đạt được các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, không làm suy giảm các giá trị và nâng cao giá trị rừng, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh (Điều 2, Luật Lâm nghiệp, 2017) [49]. Như vậy, QLRBV là việc đóng góp của nghề rừng đến sự phát triển của quốc gia. Sự phát triển đó phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, đồng thời có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai. Mô hình về phát triển bền vững Nguồn: WCED, 1987 6 1.

Rừng sản xuất và phát triển rừng trồng sản xuất - Theo Điều 5 của Luật lâm nghiệp năm 2017, rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường [49]. - Rừng trồng sản xuất được hiểu là diện tích rừng trồng thuộc quy hoạch rừng sản xuất và diện tích rừng trồng ngoài quy hoạch được sử dụng để cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường. - Trên cơ sở khái niệm về QLRBV, phát triển rừng trồng sản xuất bền vững được hiểu là quá trình thực hiện các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu phát triển rừng nhưng không làm suy giảm các giá trị và nâng cao giá trị rừng, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường,… Như vậy, việc phát triển rừng trồng sản xuất bền vững đó là sự phát triển phải mang lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rừng bền vững Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rừng bền vững gồm hai nhóm bao gồm: nhóm yếu tố chủ quan của bản thân người sản xuất (chủ rừng) và nhóm yếu tố khách quan bao gồm các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.

Theo Phạm Hoài Đức và cộng sự (2006) [26] các yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến quản lý rừng bền vững là chính sách lâm nghiệp, phong trào môi trường và thị trường sản phẩm. Nguyễn Ngọc Lung (2013) [38] cho rằng một số yếu tố cản trở đối với quản lý rừng bền vững đó là xuất phát điểm quản lý rừng yếu, hạn chế về nguồn lực và khả năng thực thi của cơ quan quản lý và các đơn vị chủ rừng, thị trường về sản phẩm có chứng chỉ rừng còn hạn chế và quy trình chứng chỉ rừng khá phức tạp. Tình hình nghiên cứu rừng trồng trên thế giới 1. Nghiên cứu về điều kiện lập địa trồng rừng 7 Lập địa được hiểu là một phạm vi địa bàn nhất định với tất cả những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây cối.

Các yếu tố tĩnh: Sinh thái cảnh - Khí hậu (lập địa theo - Địa hình Sinh địa quần Sinh địa quần nghĩa hẹp) - Đất thể tự nhiên thể tự nhiên 2. Các yếu tố động: (lập địa theo (lập địa theo - Thế giới động vật nghĩa rộng) nghĩa rộng) Quần thể sinh vật - Thế giới thực vật - Thế giới sinh vật 3. Các yếu tố tác nhân: Xã hội con người Pogrebnhiac (Ucraina) đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định các kiểu rừng dựa trên hai yếu tố chính là độ phì và độ ẩm của đất. Trong khi đó Blaglovidop và Buadop (1958), Tretop (1981) thì n ền lập địa ở vùng Sankt-Peterburg lại được phân chia dựa vào các yếu tố: đá mẹ hình thành đất, địa hình và chế độ thoát nước.

Tretop trong quá trình nghiên cứu còn bổ sung thêm tiêu chuẩn phân chia lập địa là kiểu mùn vì ông cho rằng kiểu mùn phản ánh quá trình hình thành và phát triển độ phì đất rừng [45],[47],[48]. Các chỉ tiêu sinh trưởng cây rừng được áp dụng chủ yếu để đánh giá và phân loại lập địa đó là cấp lập địa, chỉ số lập địa và sai số sinh trưởng, trong đó: (1) Cấp lập địa là một chỉ tiêu đo lường tương đối, phản ánh sức sản xuất của đất rừng, thường được xác định bởi tương quan giữa chiều cao bình quân và cấp tuổi, để từ đó chia ra các loại lập địa. Phương pháp này được áp dụng ở Liên Xô từ năm 1950. (2) Chỉ số lập địa, người ta cho rằng độ cao ưu thế của một loài cây ở một tuổi chuẩn có quan hệ với sức sản xuất của lập địa mật thiết hơn so với độ cao bình quân.

Đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của mật độ và tổ 8 thành loài cây nhỏ nhất. Phương pháp này được Trung Quốc, Mỹ, Anh ứng dụng từ năm 1970 [45]. Sajjaduzzaman và cộng sự (2005) áp dụng tại Bangladesh để phân loại lập địa cho rừng Tếch [89]. (3) Sai số sinh trưởng được lựa chọn để nghiên cứu chất lượng lập địa ở thời kỳ sinh trưởng của rừng non.

- Sử dụng những nhân tố hoàn cảnh vật lý có tính ổn định, có quan hệ mật thiết với sinh trưởng của cây rừng để phân chia lập địa, như: (1) Khí hậu là căn cứ để chia ra các vùng lập địa, đai lập địa và khu lập địa để làm đơn vị phân chia trong hệ thống phân loại lập địa. Cùng một vùng khí hậu thì điều kiện đại khí hậu giống nhau, sự khác nhau về tiểu khí hậu là do địa hình và đất khác nhau. (2) Địa hình là một trong những căn cứ để phân loại lập địa. Trong điều kiện khí hậu và đất tương đối đồng nhất, địa hình phức tạp thì địa hình chiếm một địa vị rất quan trọng trong phân loại lập địa.

Smalle (1979) đã căn cứ vào địa mạo để phân chia đơn vị lập địa tại vùng cao nguyên Comberland của Mỹ. Tuy nhiên mỗi đơn nguyên còn phải mô tả độ phì của đất, cây chỉ thị và chỉ số lập địa của một số loài cây chủ yếu. Phương pháp này không phù hợp với những nơi có điều kiện địa hình đơn giản và bằng phẳng. (3) Trong điều kiện khí hậu tương đối đồng đều thì nhân tố đất là căn cứ quan trọng để phân chia lập địa.

Các học giả Nhật Bản đã áp dụng hệ thống phân loại đất của Mỹ, của UNESCO và phương pháp nghiên cứu mối qua hệ giữa đất và lập địa để tiến hành phân loại đất và lập địa ở các bờ sông của Philippines [45]. Trên phạm vi toàn cầu thì phương pháp đánh giá đất của FAO được áp dụng khá phổ biến, theo đó việc đánh giá đất là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất phải có và được phân thành hai bộ: bộ thích hợp (S- Suitable) và bộ không thích hợp (N-Not Suitable) trong quá trình đánh giá. Ban đầu phương pháp này được áp dụng ở các nước Tây Âu, đến năm 1984 được tổ chức FAO thừa nhận và đề xuất áp dụng chung trên toàn thế giới [48]. Theo FAO (1994) [75] ở các nước vùng nhiệt đới đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng 9 của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng cây nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào các yếu tố của điều kiện lập địa, đó là khí hậu, địa hình, loại đất và thực bì.

Nghiên cứu của Evans.J (1974) [72] về đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P. patula ở Swaziland đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ khá chặt (R=0.81) với các yếu tố địa hình và đất đai thông qua phương trình tương quan sau: Y = -18,75 + 0,0544X3 - 0,000022X32 + 0,0185X4 + 0,0449X5 + 0,5346X11 Trong đó: Y: Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m); + X3: Độ cao so với mặt nước biển (m); X4: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%); X5: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%); X11: Độ phì của đất đã được xác định. Theo kết quả nghiên cứu của Pandey.D (1983) [85] về loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã chỉ ra rằng nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh 10 - 20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5 - 10 m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30 m3/ha/năm. Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất rừng trồng.

Trung tâm Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) đã tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đới như Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Phi, Congo, Brazil. Kết quả nghiên cứu cho thấy: các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác nhau đã có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước, sự phân hủy thảm mục và chu trình dưỡng khoáng [67]. Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về ảnh hưởng của điều kiện lập địa cho thấy việc xác định vùng trồng, với điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là hết sức cần thiết, quyết định đến sự thành công của công tác phát triển rừng trồng. Nghiên cứu về giống cây trồng rừng Giống cây trồng là yếu tố đầu tiên cần quan tâm trong trồng rừng, là một trong những lĩnh vực nghiên cứu mang tính đột phá đem lại những kết quả đáng kể trong thời gian qua.

Trên thế giới có rất nhiều quốc gia đã đi sâu nghiên cứu, cải thiện đặc tính di truyền của các giống cây rừng, như Brazin, Công Gô, Zimbabwe, Malayxia. Từ thế kỷ 18 - 19 đã có những ý tưởng về nghiên cứu lai giống, sản xuất hạt giống cây rừng trồng và nhân giống sinh dưỡng. Đầu thế kỷ 20 các nước Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Đan Mạch là những nước có nền lâm nghiệp phát triển đã có nhiều công trình nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống cây rừng, đã thu được một số thành tựu nhất định. Theo Eldridge và cộng sự (1993) [71], các chương trình chọn giống đã bắt đầu ở nhiều nước và tập trung cho nhiều loài cây mọc nhanh khác nhau, trong đó có Bạch đàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Rừng Trồng Sản Xuất Tại Đồng Nai" cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình rừng trồng tại Đồng Nai, phân tích những thách thức hiện tại và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững. Nội dung tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về thực trạng rừng trồng mà còn chỉ ra những lợi ích kinh tế, môi trường mà rừng trồng mang lại cho địa phương. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các mô hình trồng rừng hiệu quả để nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các mô hình trồng rừng khác, hãy tham khảo tài liệu "Luận văn tốt nghiệp đánh giá hiệu quả một số mô hình trồng rừng tại huyện bảo lạc tỉnh cao bằng", nơi bạn có thể tìm hiểu về các mô hình cụ thể và hiệu quả của chúng. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn tốt nghiệp đánh giá một số mô hình trồng rừng xoan đào pygeum arboreum endl ở các tỉnh phía bắc" sẽ cung cấp thêm thông tin về các mô hình trồng rừng ở miền Bắc, giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo "Luận văn đánh giá hiệu quả một số mô hình trồng rừng tại huyện bảo lạc tỉnh cao bằng" để nắm bắt thêm các phương pháp và kết quả đánh giá từ những nghiên cứu khác. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai quan tâm đến phát triển rừng trồng bền vững.