Đặt vấn đề Đảng bộ huyện Chợ Đồn (Nhiệm kỳ 2010 - 2015) đã xác định cơ cấu kinh tế của huyện đến năm 2015 là Lâm – nông – công nghiệp – dịch vụ. Mỗi năm phấn đấu trồng mới 2.000ha rừng trở lên, nâng và duy trì độ che phủ rừng đến năm 2015 đạt trên 65% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Xác định lâm nghiệp là thế mạnh của tỉnh Bắc Kan, thực hiện quyết định số 147/2007/ QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 – 2015. Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 07/10/2011 về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất một số cây trồng trong phát triển nông nghiệp chính và trồng rừng sản xuất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 - 2015.
Đây là những chính sách thiết thực nhằm khuyến khích nhân dân tham gia trồng rừng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh Bắc Kạn nói chung và xã Yên Nhuận nói riêng. Yên Nhuận là xã miền núi vùng cao thuộc huyện Chợ Đồn, việc đưa những loại cây trồng trên đất lâm nghiệp có giá trị kinh tế phù hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng là rất cần thiết. Trong những năm gần đây công tác trồng rừng trên địa bàn xã Yên Nhuận đã đẩy mạnh vận động nhân dân trồng rừng. Diện tích rừng trồng ngày càng tăng.
Tuy nhiên, thực tế trên địa bàn xã hiện nay nhân dân chủ yếu tập trung phát triển trồng cây Mỡ là chủ yếu. Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Đồn, diện tích Mỡ đang gặp nhiều bất lợi như: từ năm 2011 tình hình sâu bệnh phát triển mạnh, chu kỳ kinh doanh dài,. nên hiệu quả kinh tế chưa thực sự đạt hiệu quả cao. Để phát triển lâm nghiệp ở xã một cách bền vững trên cơ sở yêu cầu phải lựa chọn cây trồng n 2 phù hợp với những điều kiện thực tế tại địa phương, khắc phục được những tồn tại hạn chế trong thực hiện công tác trồng rừng của xã trong những năm qua.
Vì vậy đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo lai tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống cho người dân và góp phần quan trọng việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.2 Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng công tác trồng và phát triển cây Keo lai của xã, xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong phát triển diện tích trồng Keo lai nhằm đề xuất các giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo lai tại xã Yên Nhuận huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc 1.3 Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được thực trạng phát triển rừng trồng Keo Lai tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn - Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển rừng trồng keo lai tại địa bàn nghiên cứu - Hiệu quả của cây Keo lai đem lại về kinh tế, xã hội và môi trường - Đề xuất được một số giải pháp phát triển rừng trồng cây keo lai tại đây. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu + Là tài liệu trong quá trình học tập cũng như những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực liên quan. + Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên kiểm chứng lại kiến thức, học đi đôi với hành, vận dụng những điều có trong sách vở và trong quá trình học tập vào thực tế một cách có hiệu n 3 quả.
Giúp sinh viên nắm vững được các kiến thức đã học và áp dụng vào trong thực tiễn một cách có hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn + Xác định được thực trạng cũng như diện tích rừng trồng keo hiện có, tìm hiểu về lịch sử phát triển của cây keo và phương thức sản xuất nghề rừng từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý trong việc phát triển cây keo lai trên địa bàn nghiên cứu. + Do chưa có bất cứ đề tài nào đánh giá về thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng cây keo lai tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, nên khả năng áp dụng vào thực tiễn của đề tài cao, đồng thời có thể đưa vào vận dụng tại các địa bàn có điều kiện tương tự trên địa bàn huyện. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2.1 Trên thế giới Để nâng cao năng suất và duy trì tính ổn định, bền vững của rừng trồng kinh tế, các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu về điều kiện lập địa, tuyển chọn tập đoàn cây trồng sao cho phù hợp với điều kiện lập địa, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, phân vùng sinh thái, tăng trưởng và sản lượng, sâu bệnh,… Có thể nói cho đến nay cơ sở khoa học cho việc phát triển rừng trồng sản xuất ở các nước phát triển đã được hoàn thiện, tương đối ổn định và đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trong nhiều năm qua.1 Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia hybrids) Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acasimangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis).
Giống Keo lai tự nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972 trong số các cây Keo tai tượng và Keo lá tràm trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ. Đến tháng 7 năm 1978, kết luận trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia ( dẫn theo Lê Đình Khả, 1999) [9]. Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987, Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992). Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn n 5 trục với đoạn thân dưới cành lớn ( dẫn theo Lê Đình Khả và CS, 2006) [11].
Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988) [26]; Gan.E và Sim Boom Liang (1991) [21] các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm. Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng lại thường xuất hiện ở lá thứ 8-9 còn ở Keo lai thì thường bắt đầu xuất hiện ở lá thứ 5-6.2 Những kết quả nghiên cứu về điều kiện lập địa Nghiên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển, điều này được thể hiện ở sự khác nhau về đặc điểm của các phẫu diện đất, đó là độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất khác nhau là khác nhau. Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swziland, Julian Evans (1992) [23] đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình tương quan sau: Y = -18,75+0,0544×3- 0,000022×32+0,0185x4+0,0449x5+0,5346×11 Trong đó: + Y: Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m); + ×3: Độ cao so với mặt nước biển (m); + ×4: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%); + ×5: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%); + ×11: Độ phì của đất đã được xác định.
Kết quả nghiên cứu của Pandey. D (1983) [25] về loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy: nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm n 6 thì năng suất chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30m3/ha/năm. Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau. Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng.3 Những nghiên cứu về lâm sinh Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở những nơi đất xấu.
Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt đầu từ những năm 1950. Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân đã tăng lên 100.000 ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan. Đến năm 1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha ( dẫn theo Ngô Đình Quế, 2004) [17]. Về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đi sâu nghiên cứu, điển hình là công trình nghiên cứu của Mello (1976) [24] ở Brazin, tác giả cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nhưng nếu bón phân NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50%.
Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng. Đối với mỗi dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau. Tại Colombia, Bolstand và cộng sự (1988) [20] cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực đối với rừng trồng Thông P. caribeae, đó là Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium.
Tại Cu Ba, cũng với đối tượng là rừng Thông P.