ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI[3] khẳng định: “Chƣơng trình xây dựng nông thôn mới là chƣơng trình mục tiêu trọng điểm quốc gia”. Trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng và sản xuất nông nghiệp đóng vai trò then chốt. Trong những năm qua ngành sản xuất nông nghiệp đã đạt đƣợc nhiều thành quả tích cực.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê[5], năm 2013 tốc độ tăng trƣởng GDP toàn ngành Nông nghiệp đạt 2,67%, tƣơng đƣơng mức tăng của năm 2012 (2,68%), trong đó: trồng trọt tăng 2,6%, chăn nuôi tăng 1,4%, lâm nghiệp tăng 5,18%, thủy sản tăng 3,05%. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ƣớc đạt 801,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,95% so với 2012, trong đó: Nông nghiệp đạt 602,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,47%; lâm nghiệp đạt 22,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,04%; thuỷ sản đạt 176,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,22%. Mặc dù, tốc độ tăng trƣởng GDP và giá trị sản xuất toàn ngành thấp hơn mức tăng của năm 2012 (3,4%), nhƣng đƣợc đánh giá là mức tăng trƣởng khá trong bối cảnh có nhiều khó khăn cả trong và ngoài nƣớc. Toàn ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có nhiều nỗ lực triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ, duy trì tăng trƣởng hầu hết các ngành sản xuất, đảm bảo vững chắc an ninh lƣơng thực quốc gia, đẩy mạnh xuất khẩu vừa đảm bảo lợi ích của nông dân.
Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là mô ̣t trong nhƣ̃ng nƣớc đƣ́ng đầ u về xuất khẩu gạo và các nông sản quan trọng khác là cà phê, hồ tiêu, điều,sợi bông, đậu phộng, cao su, đƣờng, và chè. Sau khi gia nhâ ̣p WTO , nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam đƣ́ng trƣớc nhƣ̃ng cơ hô ̣i rấ t lớn cùng những thách thức không nhỏ. Nhâ ̣n thƣ́c rõ nhƣ̃ng khó khăn trƣớc mắ t , đă ̣c biê ̣t là nhƣ̃ng năm đầ u gia nhâ ̣p WTO , Đảng và Nhà nƣớc ta đã có nhiề u chính sách phát triể n bề n vƣ̃ng nông nghiê ̣p và nông thôn. Trong quá trin ̀ h phát triể n nông nghiê ̣p, vai trò của hê ̣ thố ng khuyế n nông ngày càng đƣơ ̣c khẳ ng đinh ̣ , kể từ ngày 02/3/1993, khi Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông - khuyến ngƣ, hệ thống khuyến nông - khuyến ngƣ Việt Nam đã đƣợc hình thành, củng cố và ngày càng phát triển một cách toàn diện.
Tuy vậy, sau 22 năm thực hiện n 2 Nghị định 13/CP, công tác khuyến nông đã gặp không ít khó khăn, vƣớng mắc, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất, khoa học công nghệ và xu hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã trình Chính phủ để sửa đổi, bổ sung một số nội dung hoạt động khuyến nông, thay thế cho Nghị định 13/CP. Ngày 26/4/2005, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về khuyến nông , khuyến ngƣ. Và mới nhất , ngày 08/01/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông, nhằ m giúp hê ̣ thố ng khuyế n nông có chất lƣợng và số lƣợng tố t nhấ t để góp phầ n nhiều nhấ t vào quá trình đồng hành cùng ngƣời nông dân để chia sẻ những thuận lợi, khó khăn trên con đƣờng hƣớng tới phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững.
Thành công của ngành nông nghiệp có sự đóng góp rất tích cực và quan trọng của hệ thống Khuyến nông với vai trò là cầu nối giữa Nhà nƣớc, cơ quan nghiên cứu khoa học với ngƣời nông dân và thị trƣờng, là hệ thống tƣ vấn, phổ biến kiến thức, các chủ trƣơng chính sách của Đảng, Nhà nƣớc, cung cấp thông tin, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ. Song, hiện nay hoạt động khuyến nông đạt hiệu quả không cao do: trình độ nhận thức của ngƣời nông dân còn hạn chế và chƣa nhận thấy tầm quan trọng của khuyến nông, mặt khác cán bộ khuyến nông làm việc theo phƣơng thức áp đặt từ trên - xuống mà không xuất phát từ nhu cầu của ngƣời nông dân. Từ đó đòi hỏi cần phải có biện pháp phát triển công tác khuyến nông hiện nay. Phúc Sơn là một xã trung du miền núi của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Trong những năm qua công tác khuyến nông tại xã đã có nhiều đóng góp để nâng cao năng suất cây trồng, vậy nuôi. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những khó khăn, thử thách. Tổ chức khuyến nông chƣa hoàn chỉnh, kinh phí cho hoạt động khuyến nông còn hạn hẹp, thông tin, tuyên truyền, tập huấn còn hạn chế nên chƣa thể đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời dân, chƣa phát huy đƣợc những tiềm năng tại địa phƣơng. Xuất phát từ tình hình thực tế cùng với sự phân công của Khoa KT&PTNT Trƣờng ĐHNL Thái Nguyên và đƣợc sự hƣớng dẫn của thầy giáo Hà Văn Chiến, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển công tác khuyến nông tại xã Phúc Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu, đánh giá thực trạng công tác khuyến nông tại xã Phúc Sơn. Trên cơ sở đó phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức, đƣa ra những nguyên nhân còn tồn tại và đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác khuyến nông tại xã Phúc Sơn, nhằm cải thiện cuộc sống ngƣời dân và phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn xã. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá đƣợc điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Phúc Sơn.
- Đánh giá đƣợc cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực và thực trạng công tác khuyến nông của xã Phúc Sơn trong giai đoạn 2012-2014. - Phân tích đƣợc những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác khuyến nông trong giai đoạn mới. - Đƣa ra đƣợc mục tiêu, chiến lƣợc phát triển và giải pháp thực hiện góp phần nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông của xã phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Tổng hợp và ôn lại những kiến thức đã học - Học hỏi kinh nghiệm thực tế và bổ sung kiến thức cho bản thân - Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, củng cố kiến thức chuyên môn, làm quen với thực tiễn, kỹ năng tiếp cận và làm việc với ngƣời nông dân. - Là tài liệu tham khảo cho sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của công tác khuyến nông tại xã, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển công tác khuyến nông bền vững và hiệu quả hơn. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lí luận của đề tài 2. Nội dung hoạt động khuyến nông Căn cứ theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP[2] ban hành ngày 08/01/2010, Khuyến nông Việt Nam hiện nay có các nội dung hoạt động sau: Thông tin, tuyên tuyền - Tuyên truyền chủ trƣơng đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, các TBKT và công nghệ, thông tin thị trƣờng, giá cả. Phổ biến điển hình trong sản xuất, quản lý, kinh doanh, phát triển nông nghiệp, thủy sản. - Xuất bản hƣớng dẫn và cung cấp thông tin đến ngƣời sản xuất bằng các phƣơng tiện thông tin đại chúng, hội nghị, hội thảo, hội trợ triển lãm và các hình thức thông tin tuyên truyền khác.
Bồi dƣỡng, đào tạo tập huấn - Bồi dƣỡng tập huấn và truyền nghề cho ngƣời sản xuất, nâng cao kiến thức kỹ năng cho ngƣời sản xuất, quản lý kinh tế trong nông nghiệp. - Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ khuyến nông. Xây dựng mô hình và chuyển giao công nghệ Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp với từng địa phƣơng, nhu cầu của ngƣời sản xuất và định hƣớng của ngành, các mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh nông nghiệp hiệu quả và bền vững. Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình diễn, điển hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng. Tƣ vấn và dịch vụ Tƣ vấn và dịch vụ cho ngƣời sản xuất, kinh doanh dịch vụ nông nghiệp về: - Chính sách và pháp luật liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn. n 5 - Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tổ chức, quản lý để nâng cao năng suất, chất lƣợng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm - Khởi nghiệp cho chủ trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ về lập dự án đầu tƣ, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tìm kiếm thị trƣờng… - Cung ứng vật tƣ nông nghiệp.
Hợp tác quốc tế về khuyến nông - Tham gia thực hiện hoạt động khuyến nông trong các chƣơng trình hợp tác quốc tế. - Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông với các tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài và tổ chức quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nguyên tắc hoạt động khuyến nông Khuyến nông làm cùng dân, không làm thay cho dân: Chỉ có bản thân ngƣời nông dân mới có thể giải quyết đƣợc phƣơng thức canh tác trên mảnh đất của gia đình họ. CBKN cần cung cấp thông tin, trao đổi với nông dân trên cơ sở điều kiện cụ thể về đất đai, khí hậu, nguồn vốn, nhân lực, các thuận lợi, khó khăn và trở ngại, các cơ hội có thể đạt đƣợc, từ đó khuyến khích họ tự đƣa ra quyết định cho mình.
Khuyến khích phải đƣợc thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao: Một mặt khuyến nông chịu trách nhiệm trƣớc Nhà nƣớc là cơ quan quyết định những chính sách PTNT cho nên phải tuân theo đƣờng lối và chính sách của Nhà nƣớc trong khi thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác khuyến nông có trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu của nông dân trong vùng. Khuyến nông là nhịp cầu nối cho thông tin hai chiều: Cơ quan Khuyến Nông dân nghiên cứu nông Hình 2.