ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Song song với quá trình phát triển không ngừng của kinh tế - xã hội chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở khắp các địa phương. Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh chóng kéo theo nó là sự phát sinh một lượng các loại chất thải tương đối lớn gây tác động không tốt đến sức khoẻ của con người và làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị. Môi trường đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người.
Môi trường xanh, sạch không chỉ đơn thuần tạo nên vẻ mỹ quan cho xã hội mà còn ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe của con người. Ngày nay, với sự phát triển kinh tế, xã hội, tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành: Công nghiệp, dịch vụ, du lịch… thì các yếu tố môi trường bị ảnh hưởng ngày một nhiều. Song song với sự phát triển đó đã làm nảy sinh những vấn đề mới, nan giải cho toàn xã hội trong đó ô nhiễm môi trường là vấn đề gây bức xúc cho cả cộng đồng. Ô nhiễm môi trường với nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có chất thải rắn đặc biệt là rác thải sinh hoạt.
Rác thải sinh hoạt là một phần của cuộc sống phát sinh hoạt của con người. Với mức thu nhập của người dân càng cao thì việc sử dụng các sản phẩm của xã hội ngày một lớn kéo theo sự ra tăng lượng rác thải sinh hoạt gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, làm mất cảnh quan đô thị… Hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng thì rác thải sinh hoạt là một vấn đề nan giải, cần được chú trọng từ khâu thu gom tới quá trình xử lý. Điều đó đòi hỏi phải có công nghệ và quy trình phù hợp để xử lý c 2 triệt để lượng rác thải rắn sinh hoạt phát sinh.Theo dự báo Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015 sẽ có 85% tổng lượng rác thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường. Trong đó có khoảng 60% được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thu hồi năng lượng.
Tuy nhiên xét về năng lực hiện tại và mức độ phát triển đô thị và công nghiệp, nhu cầu về quản lý chất thải rắn nói chung và rác thải rắn sinh hoạt nói riêng là rất lớn, việc quản lý rác thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nguồn đã khó, việc quản lý rác thải rắn sinh hoạt khi phát sinh ra càng khó hơn. Đại Từ là Huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên , cùng với sự phát triển chung của cả nước, công tác bảo vệ môi trường, phòng chống ô nhiễm đang rất được quan tâm, nhất là về quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn huyện Đại Từ được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau với thành phần phức tạp và đa dạng, do vậy tìm hiểu về nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt,đánh giá thực trạng công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên cùng với hướng dẫn tận tình của GVHD: Th,S Nguyễn Thị Huệ và Ban quản lý vệ sinh môi trường đô thị huyện Đại Từ, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá thực trạng công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát'. Đánh giá thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ đó đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu. Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đại Từ c 3 - Đánh giá thực trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa huyện Đại Từ - Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đại Từ trong thời gian tới. Yêu cầu - Đưa ra đánh giá về hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Đại Từ.
- Tìm những khó khăn, những tồn tại và đưa ra những biện pháp khắc phục. - Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi có thể áp dụng tại khu vực nghiên cứu đề tài. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ô nhiễm và giải quyết ô nhiễm môi trường là một vấn đề cấp bách và cần thiết, nhằm bảo vệ sự trong lành của môi trường, bảo vệ sức khỏe và tạo ra vẻ đẹp mỹ quan đô thị. Do đó, việc đánh giá thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đại Từ cũng không ngoài mục đích bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và mỹ quan đô thị đó là một công cụ khoa học kỹ thuật nhằm phân tích dự báo các tác động có lợi, có hại trực tiếp, gián tiếp trước mắt và lâu dài của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội.
Từ đó tìm ra phương pháp tối ưu cho công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đại Từ trong thời gian tới. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Bảo vệ môi trường ngày 23 tháng 6 năm 2014; - Nghị quyết số: 41-NQ/TW ngày 15/11/2015 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; - Nghị định số: 19/2015/NĐ-CP, ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường; - Nghị định số: 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu; - Nghị định: 179/2013/NĐ-CP, ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; - Quyết định số: 2149/2009/QĐ-TTg, ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; - Quyết định số: 2211/QĐ-TTg, ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn lưu vực sông cầu đến năm 2020; - Quyết định số: 525/QĐ-BXD, ngày 14/5/2014 của Bộ Xây dựng về phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch quản lý chất thải rắn vùng kinh tế trong điểm bắc bộ đến năm 2030; - Quyết định số: 32/2014/QĐ-UBND, ngày 29/8/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên quy định điều chỉnh mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí vệ sinh môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; - Chỉ thị số: 21/CT-UBND, ngày 30/10/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên về tăng cường quản lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Khái niệm chung về chất thải rắn sinh hoạt Nguồn gốc, sự hình thành - Chất thải rắn sinh hoạt: Là các chất thải rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật. Ví dụ như: Thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, gạch ngói, đất đá, gỗ, kim loại, cao su, chất dẻo, các loại cành cây, lá cây, vải, giấy, rơm rạ, vỏ trai, vỏ ốc, xương động vật. Chất thải rắn sinh hoạt được thải ra ở mọi nơi mọi lúc trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cư, từ các hộ gia đình, khu thương mại, chợ và các điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, các viện nghiên cứu, trường học, các cơ quan nhà nước, công sở. Những thành tựu của khoa học công nghệ đã mang lại nhiều lợi ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội của con người như nâng cao chất lượng cuộc sống, phục vụ ngày càng tốt hơn các nhu cầu của con người; nhưng đồng thời, theo sau nó cũng sinh ra một lượng chất thải rắn khá lớn cần phải xử lý.
Lượng chất thải phát sinh thay đổi do tác động của nhiều yếu tố như tăng trưởng và phát triển sản xuất, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và sự phát triển điều kiện sống và trình độ dân tríChất thải rắn sinh hoạt đã trở thành vấn đề môi trường đang được quan tâm hàng đầu hiện nay và nhiều nước đã phải đầu tư không nhỏ để giải quyết vấn đề này bằng các chương trình môi trường đặc biệt.1: Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 2. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt rất khác nhau tùy thuộc vào từng nguồn phát sinh, từng địa phương và phụ thuộc vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái chế, tái sinh. Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: [8] - Từ sinh hoạt của hộ gia đình: Nguồn phát sinh từ hộ gia đình (nhà ở riêng, khu dân cư); Chất thải phát sinh từ nguồn này bao gồm các loại như thực phẩm thừa, thùng carton, hộp nhựa, vỏ chai, lọ thủy tinh. và các chất độc hại được sử dụng trong gia đình như: dược phẩm thải bỏ, ắc quy, bóng đèn hỏng, chất tẩy rửa, chất tẩy trắng, bột giặt, thuốc diệt côn trùng.
- Từ cơ quan, trường học, khu hành chính: Thành phần bao gồm: giấy, báo, túi nilon, vỏ lon, hộp nhựa. - Từ dịch vụ công cộng và du lịch giải trí như: Chất thải rắn là rác cành cây, túi nilon, vỏ chai nhựa. - Từ hoạt động công nghiệp: Phát sinh từ các hoạt động SH của công nhân thành phần bao gồm: thực phẩm thừa, hộp nhựa, vỏ chai, lọ thủy tinh. Phân loại Có nhiều cách để phân loại chất thải rắn sinh hoạt: [5] - Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ.
- Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da , giẻ vụn, cao su, chất dẻo. - Theo mức độ nguy hại phân ra thành chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại. c 7 - Theo khả năng phân hủy chất thải rắn sinh hoạt được phân thành: Chất thải hữu cơ dễ phân hủy và chất thải khó phân hủy.