CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS VÀ DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1: Những vấn đề chung về logistics 1.1: Khái niệm Logistics ”Theo ý kiến 5 đúng (five rights) thì logistics là tiến trình đáp ứng đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm (right items, right place, right time, right condition right cost). ” ( trích Douglas M. ”Dưới góc độ quản lý chuỗi cung ứng, logistics là tiến trình tối ưu hóa về vị trí, lưu giữ và chu chuyển yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt nhiều hoạt động kinh tế” (trích Logistics and Supply Chain Management, Ma Shou, 1999). Các khái niệm nói về logistics trên đều khẳng định logistics là một tiến trình bao gồm nhiều hoạt động.
Điều này cho thấy logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách có khoa học, có hệ thống thông qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Đây là quá trình có liên quan đến nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược. Luật thương mại Việt Nam 2005 đưa ra khái niệm: “dịch vụ logistics” tại điều 233: ”Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch i vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc”.
Định nghĩa này vẫn còn hạn chế vì chỉ liệt kê một số công việc của logistics, mặt khác chỉ đề cập đến hàng hóa, trong khi logistics còn liên quan rất nhiều đến nguyên vật liệu, bán thành phẩm, năng lượng. Qua các khái niệm và định nghĩa trên, ta thấy dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt, cách trình bày nhưng trong nội dung, tất cả các tác giả đều cho rằng logistics chính là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng. Mục đích của logistics là giảm tối đa chi phí phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận chuyển của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hóa một cách kịp thời. Từ đây, ta có thể kết luận logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và địa điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm xuất phát đầu tiên qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
Theo đó, người kinh doanh logistics, người cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp là người đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Những khâu này phải thực hiện đồng bộ, phải mở rộng hơn, nâng cao hơn, giúp cho khách hàng yên tâm lo liệu công việc sản xuất, mua nguyên liệu, bán thành phẩm. Và quan trọng là giúp cho khách hàng tiết kiệm được chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường 1.2: Các giai đoạn phát triển của Logistics ”Tác giả Edward Frazelle đã chia quá trình phát triển của logistics thành 5 giai đoạn là: logistics tại nơi tác nghiệp (workplace logistics), logistics tại nơi sản xuất (Facility Logistics), logistics trong doanh nghiệp (Corporate logistics), logistics trong dây chuyền cung ứng (Supply chain Logistics) và logistics toàn cầu (global logistics) (Edward Fraelle 2002).1: 5 giai đoạn trưởng thành của logistics (Nguồn: Edward Frazelle, Supply Chain Strategy: The Logistics of Supply Chain Management, tr.6) Giai đoạn 1: Logistics tại nơi tác nghiệp (Workplace Logistics) Logistics tại nơi tác nghiệp được hiểu là dòng chuyển động của nguyên vật liệu tại một điểm làm việc đơn lẻ. Mục tiêu của logistics tại nơi tác nghiệp là sắp xếp hợp lý sự chuyển động của một công việc riêng biệt, đơn lẻ tại một máy hoặc theo một dây chuyền lắp ráp.
Nguyên tắc và lý thuyết của Logistics tại nơi tác nghiệp được phát triển bởi những người sáng lập ra các nhà máy kỹ thuật công nghiệp trước và trong chiến tranh thế giới lần thứ 2. Ngày nay, mọi người thường gọi logistics tại nơi tác nghiệp là khoa học nghiên cứu về lao động (ergonomics). Giai đoạn 2: Logistics tại nơi sản xuất (Facility Logistics) Logistics tại nơi sản xuất là dòng chuyển động của nguyên vật liệu giữa các điểm làm việc tại một nơi sản xuất. Nơi sản xuất có thể là nhà máy, kho hàng, hoặc trung tâm phân phối.
Logistics tại nơi sản xuất thường được coi như xử lý nguyên vật liệu. Nguồn gốc của logistics tại nơi sản xuất và xử lý nguyên vật liệu trong sản xuất hàng loạt và dây chuyền lắp ráp, những hoạt động rất nổi bật trong 3 những năm 1950 và 1960. Trong khoảng thời gian này và thậm chí đến tận cuối những năm 1970, rất nhiều các tổ chức vẫn duy trì các phòng xử lý nguyên vật liệu. Ngày nay, thuật ngữ xử lý nguyên vật liệu không được dùng nữa vì nó thường đi kèm với các hoạt động không gia tăng giá trị.
Trong những năm 1960, xử lý hàng hóa, kho hàng và sự vận chuyển hàng hóa được nhóm chung vào nhóm phân phối vật chất; việc thu mua hàng hóa, marketing, và dịch vụ khách hàng được nhóm chung vào nhóm logistics kinh doanh. Giai đoạn 3: Logistics trong doanh nghiệp (Corporate Logistics) Vào những năm 1970, khi cấu trúc quản lý và hệ thống thông tin được cải tiến, khả năng của các công ty có thể đồng hóa và tổng hợp các phòng ban (xử lý nguyên vật liệu, kho hàng…) theo đúng chức năng (phân phối vật chất và logistics kinh doanh) đã cho phép logistics thực sự được ứng dụng lần đầu tiên trong một doanh nghiệp. Logistics trong doanh nghiệp trở thành một quá trình với mục tiêu chung là phát triển và duy trì chính sách dịch vụ khách hàng mang lợi nhuận đồng thời giảm chi phí logistics. Logistics trong doanh nghiệp là dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu và thông tin giữa các điểm sản xuất và các quá trình/ quy trình trong một doanh nghiệp.
Với các nhà sản xuất, các hoạt động logistics diễn ra giữa các phân xưởng và kho hàng; với các nhà bán buôn, logistics diễn ra giữa các trung tâm phân phối; và với các nhà bán lẻ, logistics diễn ra giữa các trung tâm phân phối và các kho hàng lẻ. Logistics trong doanh nghiệp đôi khi đi kèm với cụm từ phân phối vật chất, điều này rất phổ biến vào các năm 1970. Giai đoạn 4: Logistics trong chuỗi cung ứng (Supply Chain Logistics) Logistics trong chuỗi cung ứng được định nghĩa là dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu, thông tin và tiền giữa các doanh nghiệp với nhau. Đã có rất nhiều nhầm lẫn xung quanh thuật ngữ logistics và quản lý chuỗi cung ứng.
Để phân biệt hai thuật ngữ này, ta có thể hiểu chuỗi cung ứng là mạng lưới các điểm sản xuất (kho hàng, nhà máy, bến cảng…), phương tiện (xe tải, tàu hỏa, máy bay, 4 tàu biển…) và hệ thống thông tin logistics (logistics information system) được kết nối bởi nhà cung cấp của nhà cung cấp của doanh nghiệp và khách hàng của khách hàng của doanh nghiệp. Còn logistics là những gì xảy ra trong chuỗi cung ứng. Các hoạt động logistics (tiếp xúc với khách hàng, quản lý kho, cung ứng, vận tải và lưu kho) kết nối và kích hoạt các đối tượng trong chuỗi cung ứng. Giai đoạn 5: Logistics toàn cầu (Global Logistics) Logistics toàn cầu là dòng lưu chuyển của hàng hóa, thông tin và tiền giữa các quốc gia.
Logistics toàn cầu kết nối tất cả các nhà cung cấp và khách hàng trên toàn thế giới. Các dòng logistics toàn cầu đã tăng lên đáng kể trong vài năm vừa qua do sự toàn cầu hóa về kinh tế, sự mở rộng của các khối kinh tế và sự truy cập toàn cầu vào các website mua bán hàng hóa. Logistics toàn cầu cũng phức tạp hơn nhiều so với logistics trong một quốc gia bởi sự phức tạp, đa dạng về các đối tượng tham gia, ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hóa.3: Vai trò của logistics 1.3a: Đối với nền kinh tế Xét ở mọi góc nhìn tổng thể, logistics là mối liền mạch kinh tế xuyên suốt gần như trong suốtiquá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa. Mỗi hoạt động trong chuỗi logistics đều có một vị trí nhất định.
Vì vậy, nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Hoạt động của dịch vụ logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập của nền kinh tế và làm tăng tính cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế. Theo nhà kinh tế học người Anh Ullman thì khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa hai nước tỷ lệ thuận với tỷ số tiềm năng kinh tế của hai nước và tỷ lệ nghịch với khoảng cách của hai nước đó. Khoảng cách ở đây được hiểu là khoảng cách kinh tế, khoảng cách kinh tế càng được rút ngắn thì lượng hàng tiêu thụ trên thị trường càng lớn.việc giảm chi phí logistics có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược thúc đẩy xuất khẩu phát triển và tăng cường kinh tế của mỗi quốc gia.
5 Hơn nữa, trình độ phát triển và chi phí logistics của mỗi quốc gia còn được xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Đóng góp vào GDP Ngày nay, lĩnh vực logistics đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong GDP của mỗi quốc gia. Nhờ sự đóng góp của lĩnh vực dịch vụ, nền kinh tế của các nước lớn trở nên linh hoạt hơn và tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn, tạo cơ sở vững chắc cho phát triển và điều hành hoạt động kinh tế. Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, dịch vụ logistics xuất hiện ở gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa.
Cũng chính vì vậy, dịch vụ logistics có vai trò hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế nói chung và đối với hoạt động sản xuất hàng hóa nói riêng.