Nghiên Cứu Đánh Giá Thực Trạng Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ Ở Vùng Núi Phía Bắc

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay nghiên cứu đánh giá thực trạng cây trồng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ chủ yếu ở vùng núi, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

2008

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ

1.2. Nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.1. Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG

1.2.2. Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống

1.2.3. Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng

1.2.4. Các nghiên cứu khác

1.3. Nghiên cứu ở Việt Nam

1.3.1. Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG

1.3.2. Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống

1.3.3. Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng

1.3.4. Nghiên cứu về chế biến, bảo quản

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Thực Trạng Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ

Cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng Việt Nam, đặc biệt ở vùng núi phía Bắc. Nguồn tài nguyên này không chỉ cung cấp thực phẩm và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Theo Bộ NN&PTNT, LSNG chiếm từ 10-20% tổng thu nhập của hộ gia đình ở một số địa phương miền núi. Việc đánh giá thực trạng cây lâm sản ngoài gỗ là cần thiết để phát triển bền vững nguồn tài nguyên này.

1.1. Định Nghĩa Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ

Cây lâm sản ngoài gỗ được định nghĩa là những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, không phải gỗ, được khai thác từ rừng. Chúng bao gồm nhiều loại thực phẩm, dược liệu và nguyên liệu cho ngành công nghiệp.

1.2. Vai Trò Của Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ Trong Kinh Tế

LSNG không chỉ tạo ra nguồn thu nhập cho người dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng LSNG ngày càng tăng, cho thấy giá trị kinh tế của chúng.

II. Thách Thức Trong Việc Đánh Giá Thực Trạng Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ

Việc đánh giá thực trạng cây lâm sản ngoài gỗ gặp nhiều thách thức, bao gồm sự suy giảm diện tích rừng và chất lượng tài nguyên. Theo số liệu, diện tích rừng tự nhiên đã giảm đáng kể trong những thập kỷ qua. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cung cấp LSNG cho người dân và nền kinh tế.

2.1. Suy Giảm Diện Tích Rừng

Diện tích rừng tự nhiên ở Việt Nam đã giảm từ 14,3 triệu ha năm 1943 xuống còn 12,8 triệu ha năm 2007. Sự suy giảm này ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung LSNG.

2.2. Quản Lý Tài Nguyên Rừng Chưa Bền Vững

Quản lý tài nguyên rừng chưa bền vững là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái của rừng. Cần có các giải pháp hiệu quả để cải thiện tình hình này.

III. Phương Pháp Đánh Giá Thực Trạng Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ

Để đánh giá thực trạng cây lâm sản ngoài gỗ, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại. Việc thu thập dữ liệu từ thực địa và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của LSNG là rất quan trọng.

3.1. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu

Sử dụng các phương pháp khảo sát thực địa để thu thập dữ liệu về sự phân bố và tình trạng của các loài cây lâm sản ngoài gỗ. Điều này giúp có cái nhìn tổng quan về thực trạng hiện tại.

3.2. Phân Tích Các Yếu Tố Ảnh Hưởng

Phân tích các yếu tố như khí hậu, đất đai và quản lý rừng để hiểu rõ hơn về sự phát triển của LSNG. Các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây lâm sản.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ

Cây lâm sản ngoài gỗ không chỉ có giá trị kinh tế mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường. Việc phát triển bền vững LSNG có thể giúp cải thiện đời sống của người dân và bảo vệ đa dạng sinh học.

4.1. Cung Cấp Nguyên Liệu Cho Ngành Công Nghiệp

LSNG cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như thực phẩm, dược phẩm và chế biến gỗ. Điều này tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương.

4.2. Bảo Vệ Môi Trường

Việc phát triển bền vững LSNG giúp bảo vệ môi trường và duy trì sự đa dạng sinh học. Các loài cây này góp phần cải thiện chất lượng đất và nước.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Cây Lâm Sản Ngoài Gỗ

Tương lai của cây lâm sản ngoài gỗ phụ thuộc vào việc áp dụng các giải pháp phát triển bền vững. Cần có sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức và cộng đồng để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên quý giá này.

5.1. Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Bền Vững

Cần xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển LSNG, bao gồm việc hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho người dân. Điều này sẽ giúp nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

5.2. Tăng Cường Quản Lý Tài Nguyên Rừng

Cần tăng cường quản lý tài nguyên rừng để đảm bảo sự phát triển bền vững của LSNG. Việc này bao gồm việc giám sát và đánh giá thường xuyên tình trạng rừng.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu đánh giá thực trạng cây trồng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ chủ yếu ở vùng núi phía bắc làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển bền vững

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ Hiện nay, trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest product – NTFP, hoặc Non wood forest product – NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”. Nghiên cứu ở nước ngoài LSNG đã được người dân gây trồng, khai thác sử dụng cách đây hàng nghìn năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia,.…Theo Mendelsohn (1989) cho rằng hiện nay các nhà khoa học, các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và phát triển LSNG gắn với bảo tồn và phát triển rừng. Đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa góp phần vào quá trình bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng.

Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình theo các vấn đề khác nhau: 1. Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG Công trình “Nghiên cứu về tre trúc” của Munro (1868) được coi là một trong những nghiên cứu về tre trúc đầu tiên (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [1],[2]. Trong công trình này tác giả đã khái quát được một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới. Khi nghiên cứu về “Các loài tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 theo Đỗ Văn Bản, 2005) [1],[2] có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Malaysia và Indonesia.A Hubermen và U Aung Din de F.D (1963) [19] với công trình “Rừng tre nứa” đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của tre trúc nứa Ấn Độ, Pakistan liên quan đến thổ nhưỡng, khí hậu và một số biện pháp xử lý lâm học, tái sinh, khai thác.

Widjaja (1995) [47] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á. Nhìn chung, các nghiên cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào các loài LSNG có diện tích phân bố với số lượng lớn là Tre trúc, các nghiên cứu về Song mây và một số cây thuốc, cây lấy dầu nhựa,… hầu như chưa được đề cập đến. Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống Zhou Fangchun (2000) [50] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc. Vũ Văn Dũng, Lê Huy Cường (1996) [13] cho biết Malaysia bước đầu đã nghiên cứu tạo giống mây bằng phương pháp nuôi cây mô, đã tiến hành thí nghiệm trồng song mây dưới tán các loại rừng với các mật độ khác nhau.

Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng mây giống phục vụ cho gieo trồng trên quy mô lớn 1. Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng Xiao Jianghua (1996) [46] đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh. Zhou Fangchun (2000) [50] đã cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm có ảnh hưởng khá rõ đến quá trình phát sinh, phát triển măng,… của nhiều loài tre trúc khác nhau, đó là những cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm thúc đẩy sinh măng trái vụ ở Trung Quốc.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Manokaran, 1998 [16] việc trồng mây nếp đã phát triển trên quy mô lớn ở Trung Quốc, phổ biến là trồng theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng xen trong các khu rừng phục hồi và rừng trồng, cây con được trồng 1 hoặc 2 cây/ cụm. Tại Quảng Đông, mây nếp được trồng thử nghiệm ở sườn đồi, thu hoạch vào năm thứ 7 cho năng suất khoảng 1,2 tấn/ha. Những năm gần đây, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học, kỹ thuật gây trồng, chế biến và tổng kết đánh giá kết quả gây trồng một số loài LSNG có giá trị ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, Trung Quốc, Brazils,…. (Peter Zuidema, 2001;…Marinus J.) Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, công dụng, tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển LSNG trên thế giới đã có nhiều kết quả.

Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển, sử dụng hợp lý và bền vững thì LSNG sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập cho người dân miền núi, nhiều nơi còn làm nguồn thu nhập chính, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng. Các nghiên cứu khác Trong quá trình nghiên cứu về lâm sản vùng nhiệt đới J. de Beer (1992) [48] chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, L.J Lemmens (1999) [49] đã cho thấy giá trị to lớn của Thảo quả trong việc tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân sinh sống ở vùng cao. Từ những nhận thức về tầm quan trọng của LSNG, nên chúng đã được chú ý phát triển trong các chiến lược phát triển ở nhiều Quốc gia như Trung Quốc, Ân Độ, Pêru, Indonesia,.và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều nước đặc biệt là các nước có nguồn tài nguyên rừng nhiệt đới để làm cơ sở cho việc định hướng phát triển trong tương lai.

Tuy nhiên, các công trình tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như phân loại LSNG, đánh giá vai trò, giá trị kinh tế, xã hội và môi trường, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thị trường,…như các công trình của Mendelsohn (1989); Heinzman (1990) ; Falconer (1993).Đa số các công trình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đều khẳng định LSNG có vai trò quan trọng, cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng,. đồng thời là nguồn thu nhập lớn (khoảng 20-30% cơ cấu thu nhập) của các hộ gia đình miền núi ở các nước này. Theo số liệu của FAO, ước tính có khoảng 80% dân số trong các nước đang phát triển sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu về sức khỏe và dinh dưỡng. Vài triệu hộ gia đình trên toàn thế giới sống nhờ vào các sản phẩm này để đáp ứng các tiêu dùng thiết yếu hàng ngày hay là tạo thu nhập.

LSNG được những người thợ thủ công và nghệ nhân làng bản sử dụng trên khắp thế giới. Hiện nay, có ít nhất 150 loài LSNG đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thương mại quốc tế (mật ong, nấm, hương liệu, sâm, dầu nhựa, song mây…), ước tính tổng giá trị thương mại quốc tế của LSNG hàng năm khoảng 5-11 tỷ USD (Mohammad Iqbal – 1993) International trade in NWFPs: an overview). Nghiên cứu ở Việt Nam Các tư liệu, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến LSNG hiện nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm, phân loại, vai trò, giá trị sử dụng và kỹ thuật gây trồng cho một số loài cây LSNG chủ yếu, điển hình là một số công trình nghiên cứu phân theo các vấn đề sau đây: 1. Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Lecomte- một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài LSNG có giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, trong đó có ở Việt Nam.

Đỗ Tất Lợi (1977) [27] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” – tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay từ những loài LSNG này. Theo Vũ Văn Dũng và Lê Huy Cường (1996) [13] tới nay Việt Nam đã thống kê được 5 chi và 30 loài mây song bao gồm: chi mây nếp (Calamus) có 19 loài và 1 loài phụ; chi hèo (Daemonorops) có 4 loài; chi phướn (Korthalsia) có 2 loài; chi mây rúp (Myriapis) có 1 loài; chi song lá bạc (Plectocomia) có 2 loài và chi song voi (Plecomomiopsis) có 1 loài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Vũ Văn Dũng và cộng sự (2002) [14], các tác giả đã đưa ra định nghĩa, phân loại LSNG, giới thiệu về một số nhóm LSNG có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý LSNG, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển LSNG ,… Theo Lê Viết Lâm và cộng sự (2005) [26] ở Việt Nam có thể có đến 200 loài tre trúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giám định tên, trong đó có rất nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển. Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất.

Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) [29] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái phân bố và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống : Bát độ, Điềm trúc và Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc. Năm 2006, Bộ NN& PTNT đã phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển LSNG trong giai đoạn 2006-2020” [8]. Năm 2007, Bộ NN&PTNT tiếp tục phê duyệt Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG ở Việt Nam [9]. Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [23], đã mô tả hình thái, phân bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài LSNG.

Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); Nhóm cây thuốc (76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm (19 loài); Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng mát thân gỗ).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ